HÀ TIÊN

CẢNH QUAN THƠ MỘNG

DIỆU KỲ

 

bài của

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas USA)

Căn cứ theo sử sách ghi lại, đất Mang Khảm nguyên là của Thủy Chân Lạp (Cao Miên). Vua Chân Lạp phong chức Ốc Nha (Oknha - chức quan cai quản một tỉnh) cho Mạc Cửu để khai khẩn và tự túc sinh tồn nhưng do biến cố tạo phản trong hoàng tộc Chân Lạp, Mạc Cửu t́m cơ hội trốn về Trủng Kè - một đảo nhỏ trong vịnh Kampongsom. Măi đến năm 1706, Mạc Cửu mới về lại được Mang Khảm tái thiết thành một bờ cơi biệt lập, tổ chức dân cư, lập ra 7 xă trải dài từ Kompongsom tới Cà Mau khoảng 500km bờ biển, gồm Kompongsom (Vũng Thơm), Kép, Kampốt, Phú Quốc, Hà Tiên, Giá Khê (Rạch Giá). Nhưng quân Xiêm (Thái Lan) tràn sang chiếm Mang Khảm, bắt Mạc Cửu cùng gia quyến đem về Vọng Các (Bangkok). Có lẽ do vận may của số phận mà Mạc Cửu trốn được, nên hai năm sau, tháng 8 mùa thu Mậu tư (1708) nhà chính trị sáng suốt và thức thời nầy sau nhiều toan tính đă quyết định thần phục Đại Việt! Mạc Cửu bèn phái sứ thần ra Phú Xuân dâng vật cống và bản đồ xin sáp nhập đất Mang Khảm vào Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận điều nầy. Thoả thuận chính trị được dàn xếp tốt đẹp: Mang Khảm vùng đất mới chính thức lập thành trấn, cải danh là trấn Hà Tiên. "Công dân mới" Mạc Cửu được nhà Nguyễn phong tước Cửu Ngọc hầu và chức Tổng binh trấn Hà Tiên và dành đặc quyền tự trị vùng giang sơn mới này. Như vậy, về mặt pháp lư, kể từ mùa thu 1708 Hà Tiên chính thức trở thành bộ phận của tổ quốc Việt Nam.

Hà Tiên nằm trong vùng vịnh Thái Lan, đứng sát với Kép của nước Cao Miên (Campuchia), có nhiều cảnh đẹp diệu kỳ và có một công tŕnh văn hoá độc đáo Chiêu Anh Các. Mùa Xuân năm Bính th́n 1736, Mạc Thiên Tích, con trai Mạc Cửu cùng thập bát tú (18 ngôi sao văn nhân thi sĩ) thành lập "Tao đàn Chiêu Anh Các" (có tài liệu cho rằng quy tụ được 36 thi nhân?) và cỗ vơ phong trào sáng tác truyền bá văn chương thơ phú. Đây là Tao đàn thứ hai trong lịch sử văn hoá dân tộc Việt Nam, sau tao đàn của Lê Thánh Tông (Lê Tư Thành 1442-1497) vua thứ tư nhà Hậu Lê. Ông là một bậc thông minh, thông hiểu nhiều môn học thuật, lên ngôi vào lúc 18 tuổi (năm 1460). Triều đại ông thịnh vượng, hoàn thành những cải cách kinh tế, chính trị, văn hoá. Ông tự xưng là Thiên Nam Động Chủ hoặc Đạo Am Chủ Nhân, khi lập ra Tao đàn gồm 28 vị đại thần đứng đầu gọi là Nhị thập bát tú, mà ông là Tao đàn đô nguyên soái. Tao đàn Chiêu Anh Các đă đóng góp quan trọng vào việc củng cố ư thức dân tộc và truyền thống văn hoá Đại Việt ở vùng đất mới sáp nhập vào miền biên thùy cuối cùng của đất nước. Chính thành tựu văn hoá nầy đă biến đất Hà Tiên thành ngọn hải đăng sáng rực bên bờ Thái B́nh Dương, làm cho lịch sử miền đất nầy trở thành bất tử. Với các tác phẩm Hà Tiên thập vịnh, với Khúc vịnh 10 cảnh, với Minh Bột di ngư... để lại cho chúng ta những áng văn thơ đặc sắc trong lịch sử văn hoá dân tộc và đó là nơi khơi nguồn của văn mạch phía Nam. Bốn chục năm sau ngày tao đàn Chiêu Anh Các xuất hiện, có lúc bị lụi tàn bởi chiến tranh binh lửa, nhưng năm 1776 khi cùng chúa Trịnh Sâm vào Phú Xuân (Huế) tiếp nhận giang sơn họ Nguyễn (Đàng Trong), học giả uyên bác, nhà văn hoá lớn thời Hậu Lê là Lê Quư Đôn say mê đọc văn thơ Chiêu Anh Các và thốt lên thán phục: "Không thể bảo rằng ở hải ngoại không có văn chương được !”.

Trong tập Kiến Văn Tiểu Lục, Lê Quư Đôn (1726 - 1784) đă ghi lại được 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên đến nay c̣n lưu truyền. Mười cảnh đẹp tiêu biểu của đất Hà Tiên mà trong thi tập Hà Tiên Thập Vịnh Tập của Mạc Thiên Tích mô tả mười cảnh đẹp tiêu biểu đó là:

1. Kim Dự Lan Đào - Sóng lớn Kim Dự (Núi Tô Châu)

2. B́nh San Diệp Tuư - Lá rậm B́nh San (Núi Lăng)

3. Tiêu Tự Thần Chung - Chuông sớm chùa vắng (Chùa

Phù Dung)

4. Giang Thành Dạ Cổ - Trống đêm Giang Thành (Sông

Giang Thành)

5. Thạch Động Thôn Vân - Thạch Động nuốt mây (Hang

Thạch Động)

6. Châu Nham Lạc Lộ - C̣ sa Châu Nham (Núi Đá Dựng)

7. Đông Hồ Ấn Nguyệt - Trăng in Đông Hồ (Phá Hà Tiên)

8. Nam Phố Trừng Ba - Sóng lặng Nam Phố (Biển Băi Ớt)

9. Lộc Trĩ Thôn Cư - Xóm trại Mũi Nai (Băi Mũi Nai)

Lư Khê Ngư Bạc - Bến cá Khê Lư (Rạch Vược)

(Xin mở ngoặc nói đôi nét về Lê Quư Đôn, v́ ông đă có nhận định liên quan đến Chiêu Anh Các để bạn đọc tiện đánh giá thêm: Thuở nhỏ ông tên Lê Danh Phương, sau đổi là Lê Quư Đôn, tự Doăn Hậu, hiệu Quế Đường. Quê làng Duyên Hà, huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái B́nh). Thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, có trí nhớ phi thường nên được người đương thời xem là thần đồng. Năm Quư hợi 1743 đỗ Giải nguyên, năm Nhâm th́n đỗ nhất giáp nhị danh tiến sĩ (Bảng nhăn). Từ thi hương đến thi hội đều đỗ đầu. Sau khi thi đỗ, được bổ làm Thị độc toà Hàn Lâm, sung Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Năm Nhâm th́n 1760 làm phó sứ đi Trung Quốc, khi về được phong chức Dĩnh Thành bá, rồi thăng Hàn lâm viện thừa chỉ, Đốc đồng Hải Dương. Sau chuyển về Kinh làm Tổng tài Quốc sứ quán cùng Nguyễn Hoàn khảo duyệt phần Tục biên Quốc sử. Năm Quư tị 1773 được bổ Phó Đô ngự sử rồi thăng Hữu thị lang Bộ Công, Bồi tụng. Năm 1776 được cử làm Tham thị Tham tán quân cơ các đạo Thuận Hoá, Quảng Nam. Sau đó về Thăng Long làm Hành Tham tụng tại triều, được phong tước Dĩnh Thành hầu. Ngày 2 tháng 6 năm 1784 (năm Cảnh Hưng thứ 45) ông mất lúc đang tại chức, thọ 58 tuổi. Sau khi mất được truy tặng Thượng Thư bộ Công, tước Dĩnh Thành công. Lê Quư Đôn là một học gia uyên bác, đa dạng và sung măn nhất của văn hoá Việt Nam. Giới nghiên cứu thế giới (Pháp) xem ông là một nhà bác học về lĩnh vực văn hoá của nước ta. Công tŕnh trước tác và sáng tác của ông gồm một thư tịch đồ sộ về nhiều bộ môn: lịch sử, địa lư, văn học, ngôn ngữ học, triết học... Trong Lịch triều Hiến chương loại chí, khi b́nh luận về ông, Phan Huy Chú có viết: "Ông (Lê Quư Đôn) tư chất khác đời, thông minh hơn người... B́nh sinh làm sách rất nhiều, khi bàn về kinh sử th́ sâu sắc, rộng răi; mà nói đến điển cố th́ đầy đủ rơ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng ở trên đời”. Xin đóng ngoặc để nói tiếp về Hà Tiên).

Có dịp về Hà Tiên, bạn sẽ tận mắt chiêm ngưỡng những thắng cảnh đẹp diệu kỳ nầy. Bạn sẽ thích thú hơn khi được tắm biển ở những băi tắm như Băi Ṇ nằm cạnh xóm của ngư dân quanh năm rũ bóng dưới những hàng dừa xanh thẳng tắp và oằn say trái; hoặc tắm ở băi Mũi Nai cách thị trấn hà Tiên chừng 4 cây số. Băi biển nầy cát trắng đẹp không thua Nha Trang miền thùy dương nổi tiếng, hay Vũng

H̉N PHU TỬ ở Hà Tiên

Tàu thơ mộng, Đồ Sơn quyến rũ. Bạn cũng có thể đến Băi Dương với những hàng dương lả lướt phơi ḿnh trong nắng sớm và nghe từng đợt sóng biển lăn tăn vỗ nhẹ triền cát mịn màng. Bạn có thể tắm ở nhiều nơi như Băi Ớt, Ḥn Heo, Băi Bàng... mỗi nơi có một dáng vẽ mĩ miều, một sắc thái riêng biệt. Bạn cũng có thể phóng tầm mắt nh́n ra biển khơi sẽ bắt gặp Ḥn Phụ Tử quanh năm rũ ḿnh xuống biển xanh, tựa h́nh hai "cha con" quấn quít bên nhau. Chỉ cần vài phút đ̣ máy, bạn sẽ được đặt chân lên ḥn để cảm nhận rằng đại dương bao la hùng vĩ, tiếng sóng ŕ rầm dội vào vách đá như lời tâm t́nh muôn thuở của biển cả mênh mông. Và, bạn cũng sẽ được ngắm cảnh Chùa Hang nằm hẳn trong cái hang sâu, cửa hang hướng vào đất liền tạo cho du khách nỗi bâng khuâng lạ lẫm vô cùng.

Những băi tắm của Hà Tiên là một nét đẹp riêng, một dáng vẻ riêng. Tôi đă có dịp dạo khắp các băi tắm và xúc cảm cảnh sắc hữu t́nh, viết bài thơ tặng cho vợ tôi không có dịp cùng đi trong chuyến nầy:

Băi biển MŨI NAI – Hà Tiên

(ảnh lưu niệm của tác giả bài viết chụp trưa ngày 20-4-1991)

 

 

NHỚ BIỂN

tặng Diễm Phượng

Biển Hà Tiên khác biển Vũng Tàu

H́nh như có chỗ giống in nhau

Khi ta dẫm bước trên triền cát

Gặp dấu chân quen tự thuở nào?

 

Em đă đi qua biển Vũng Tàu

Hồn nhiên trên những băi Trước, Sau

Sóng xô bọt trắng trườn vai ngọc

Cát mịn làn da em ngă màu?

 

Em đă đi tới biển Hà Tiên?

Qua Ḥn Phụ Tử, Mũi Nai, yên

Gió từ Phú Quốc lùa qua băi

Chưa đợt sóng nào xoá vết chân?

 

Biết em nhớ biển - yêu thiên nhiên

Thích bơi trong lượn sóng chao nghiêng

Dẫm chân đếm bước trên triền cát

Say nắng Vũng Tàu, gió Hà Tiên?

 

Em có bao giờ nghĩ - cạnh bên

Ta theo canh giữ một ḿnh em

Lỡ khi biển động - em say sóng

Ta sẽ một ḿnh giải cứu em!

 

30-9-1991

Hà Tiên có Ḥn Phụ Tử là một trong những thắng cảnh nổi tiếng của đất nước. Nhiều truyền thuyết dân gian cũng được lưu truyền mà có một dịp về miền đất nầy, tôi được nghe mấy người dân Hà Tiên kể trong lúc trà đàm. Tương truyền vùng biển Ḥn Chông xưa có một con khủng long hung dữ, đă từng sát hại rất nhiều cư dân nơi đây. Gia đ́nh nọ có hai cha con khoẻ mạnh, người con có sức vóc hơn hẳn mọi người, đứng trước thảm hoạ đó đă quyết định ra tay diệt khủng long. Sau những lần giao chiến quyết liệt, khủng long đă chùn bước và quay trở xuống biển. Người con đang thế mạnh đuổi theo quyết hạ cho kỳ được con quái vật hung hăn nầy, nhưng bất ngờ nó phản công và đă cắn cụt đầu người con trai kiên cường đó. Một ḍng máu đỏ trào lên mặt biển. Nóng ḷng trước cái chết của người con, người cha đă lao xuống biển và quyết đấu với khủng long để trả thù cái chết đau thương của con và cũng để cứu vạn sinh linh lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị con quái vật đe doạ mạng sống. Trong cuộc quyết tử nầy khủng long đă bị tiêu diệt, nhưng người cha cũng đă kiệt sức và hy sinh. Sau cái chết của khủng long, cuộc sống của cư dân vùng nầy trở nên yên ổn cho đến ngày nay (!). Cũng từ đó, bên cạnh Ḥn Chông Hà Tiên, người ta thấy nổi lên hai ḥn đá đứng cạnh bên nhau, sừng sững trơ gan cùng sương gió và sự thét gào của biển cả: một ḥn c̣n nguyên vẹn, một ḥn bị cụt đầu, nên người dân đặt tên là Ḥn Phụ Tử (?).

Trở về thị trấn Hà Tiên, bạn sẽ gặp cảnh đẹp Đông Hồ - nhất là vào những đêm trăng tỏ, với mặt nước trải đầy mút mắt, độ sâu 5 mét, sóng vỗ lăn tăn, lấp lánh ánh bạc theo làm gió nhẹ vi vu. Khi ấy, mặt hồ soi rơ bóng chị Hằng và thấp thoáng lung linh hai dăy núi Tô Châu (Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu) soi trên mặt gương phẳng Đông Hồ một nét đẹp huyền bí. Chiếc cầu phao bắc qua con sông nối liền biển cả với Đông Hồ khiến người ngắm nh́n có một xúc cảm bâng quơ, bởi chiếc cầu vừa nối mạch quê hương, vừa là lằn ranh chia rơ biển và hồ cùng chung một ḍng nước xanh trong mát rượi.

Bạn cũng có dịp đến viếng Thạch Động. Đó là một ḥn đá xanh khổng lồ, mọc chơ vơ giữa một vùng đồng bằng phẳng. Thạch Động đẹp nhất lúc b́nh minh khi sương c̣n lóng lánh và buổi hoàng hôn những tia nắng hồng yếu ớt chiếu vào vách đá muôn h́nh vạn trạng. Lúc ấy, mây thấp bay là sà ngang qua đỉnh động, gợi cho người ngắm cảnh cảm giác như Thạch Động đang nuốt chửng những đám mây vào ḿnh. Nơi Thạch Động bạn sẽ bắt gặp những sợi thạch nhũ có h́nh thù kỳ lạ, có chỗ giống như chiếc mũ của người kỵ sĩ, và bạn cũng sẽ nghe được tiếng đàn đá ngân nga xao xuyến vào hồn. Chính trong hạng động nầy, huyền thoại về chàng Thạch Sanh đă cứu được nàng công chúa đưa lên miệng hang rồi bị gă Lư Thông lấy đá lấp hang. Cây đàn đá và hang sâu mà nơi đây có vị trí cho rằng là miệng hang, và hang đă đi sâu trong ḷng đất đổ ra đến vịnh Thái lan (?). Một người địa phương kể rằng, người ta đă thử ném một trái dừa khô có đánh dấu, một thời gian sau, trái dừa ấy đă trôi ra đến miệng hang ở phía vịnh Thái Lan(?). Tôi cũng không nghe ai đă xác nhận sự đúng sai của lời kể nầy.

Hà Tiên c̣n có nhiều núi khác như núi Pháo Đài, là một cứ điểm chiến thuật bảo vệ Hà Tiên, Núi Lăng - nơi có nhiều lăng tẩm của ḍng họ Mạc có công khai phá và ǵn giữ vùng đất mới nầy. Hà Tiên c̣n có những ngôi chùa nổi tiếng như chùa Phù Dung Tự, Tam Bảo, tịnh xá Ngọc Hồ. Vở cải lương Áo Cưới Trước Cổng Chùa của Kiên Giang Hà Huy Hà là dựa theo sự tích chùa Phù Dung Tự, được nhiều khán giả miền Nam ái một trước đây... Tất cả huyền ảo, kỳ bí, hoang dă của miền đất Hà Tiên khiến cho du khách khi đến đây không ngớt lời thán phục trước kỳ công của tạo hoá khéo sắp bày cho một miền đất tận cùng của Tổ quốc Việt Nam trở nên xinh đẹp diệu kỳ.

Nói về Hà Tiên mà không nhắc đến nhà thơ Đông Hồ là một thiếu sót. Ông là một nhà thơ cận đại Việt Nam, tên thật Lâm Tấn Phác (1906 - 1969), ngoài bút hiệu Đông Hồ c̣n kư các bút hiệu Thủy Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu tiên sinh. Ông quê làng Mỹ Đức - Hà Tiên. Thuở nhỏ ông vốn tên Kỳ Phác, đăng kư hộ tịch là Tấn Phác, sớm mồ côi cha mẹ, nhờ bác ruột là Lâm Hữu Lân nuôi dạy. Ông bác đặt tiểu tự cho ông là Quốc Ty, tự Trác Chi. Xuất thân là một giáo học, ông chuyên nghiên cứu tiếng Việt, nhiệt t́nh với văn hoá dân tộc. Ít lâu, v́ bất măn với chế độ giáo dục của thực dân Pháp, ông bỏ dạy, viết báo: Tạp chí Nam Phong (Hà Nội), Phụ Nữ tân văn, Đông Pháp thời báo, Việt Dân, Mai (Sài G̣n), Tri Tân (Hà Nội). Từ năm 1926-1934 ông lập “Trí Đức học xá" chủ trương chuyên dạy Việt Văn, cổ động người Việt tin tưởng ở tương lai tiếng Việt. Năm 1935 ông cho xuất bản tuần báo “Sống” ở Sài G̣n, báo được vài mươi số phải đ́nh bản, ông trở về Hà Tiên sinh sống và chuyên công tác nghiên cứu văn học miền Nam. Năm 1945 trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, ông có tham gia một thời gian, nhưng sức yếu, và có lẽ nh́n thấy được những thủ đoạn chánh trị thời đó, ông bỏ Hà Tiên lên Sài G̣n. Đến năm 1950, ông sáng lập nhà xuất bản Bốn Phương, năm 1953 xuất bản tập san Nhân Loại. Đây là một tờ báo tiến bộ vào thời đó ở Sài G̣n. Đến năm 1964 ông ngưng việc xuất bản, lui về ở ẩn tại Quỳnh Lâm Thư thất ở vùng ngoại ô Gia Định. Năm 1965 ông được mời làm giảng viên phụ trách môn Văn học miền Nam tại trường Đại học Văn Khoa Sài G̣n. Ông mất ngày mùng 8 tháng 2 năm Kỷ dậu (tức ngày 25 tháng 3 năm 1969) lúc đang đứng trên bục giảng cho các sinh viên lắng nghe về Văn Học miền Nam.

Ngay từ thời trai trẻ, ông đă nổi tiếng với bài kư Linh Phượng, tức Trác Chi Lệ kư tập và bài phú Đông Hồ. Ông c̣n để lại trong kho tàng văn học Việt Nam 15 tác phẩm đă in thành sách: Thơ Đông Hồ (1932), Lời Hoa (1934), Linh Phượng (1934), Cô Gái Xuân (1935), Những lỗi thường lầm trong Quốc văn (1936), Hà Tiên thập cảnh (1960), Văn Học miền Nam (1970), Trinh Trắng (1961), Truyện Song tinh (1962), Bội lan hành (1969), Úc viên thi thoại (1969), Đăng đàn (1969), Ḍng Cổ Nguyệt (1969), Chi lan đào lư, Đào lư xuân phong... Khi qua đời, nhiều tổ chức Văn hoá khắp nơi tổ chức lễ truy niệm và tiếc thương ông.

Ông Đông Hồ cũng đă có viết nhiều về Hà Tiên thập cảnh ngay từ năm 20 tuổi và măi về sau trong chặng đường sáng tác của ông, cũng có gây tranh luận đúng sai về những tài liệu đă phổ biến; đặc biệt là những nghiên cứu của anh Trương Minh Đạt một nhà giáo, nhà chuyên sưu khảo ở Hà Tiên, nhưng rất tiếc ông Đông Hồ mất đi, đă không đọc được những khám phá nầy. Anh Đạt có viết "Kính xin bà Mộng Tuyết và thân nhân cố thi sĩ Đông Hồ thể tất cho chúng tôi trong việc nầy" khi phổ biến bài "Châu Nham Lạc Lộ cảnh xưa thật sự nơi đâu?”. Các điều chứng minh trong bài nầy công phu, rành rẽ đáng tin cậy theo các tư liệu tham khảo, nhưng thiết nghĩ, rất cần cho những ai muốn t́m hiểu những điều đúng nhất trong sự h́nh thành lịch sử văn hoá và quê hương của miền đất Hà Tiên trù phú, thơ mộng, diệu kỳ nầy trong nước Việt mến yêu.

Tháng 5/1992 lần thứ hai tôi có dịp đến Hà Tiên mấy hôm, được đi thăm các thắng cảnh vừa kể trên, khi rời khỏi miền đất nầy, tôi đă làm bài thơ để tặng anh Trương Minh Đạt, một nhà giáo trước năm 1975 cũng là một nhà nghiên cứu văn học ở miền đất cuối cùng của tổ quốc, đă nhiệt t́nh hướng dẫn tôi đi đó đi đây, kể tôi nghe đôi điều về Hà Tiên, hiện nay sống lam lũ nhờ quán cốc bán cà phê sinh sống, và cũng để kết thúc bài viết ngắn nầy với lời biết ơn chân thành của tôi đối với anh.

 

GỞI HÀ TIÊN

tặng Trương Minh Đạt

 

Rời Cầu phao - nhớ Hà Tiên

Nhớ Phù Dung Tự- - nhớ triền đồi cao

Nhớ Chiêu Anh Các nao nao

Nhớ Đông Hồ - nhớ đường vào Mũi Nai

Nhớ Thạch Động - nhớ trăng soi

Nhớ t́nh thân - nhớ dáng người Hà Tiên!

 

Rời cầu phao - mặt trời lên

Đỉnh Tô Châu thẫm một nền tiêu xanh

Chợt thương khúc hát Phương Thành

Vang theo tiếng sóng vỗ gành đá quen

Chút t́nh gởi lại Hà Tiên

Nghe như len nhẹ vào miền tuổi thơ...

 

20-5-1992

LÊ CẦN THƠ

(Trong QUÊ HƯƠNG XA MĂI NGÚT NGÀN,

tác giả tự xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2000)