MỘT THẮNG CẢNH

Ở ÐỒNG BẰNG CỬU LONG

AO BÀ OM

TẠI TRÀ VINH

 

 

bài của

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

Nước Việt chúng ta trải dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau đâu đâu cũng có thắng cảnh và nhiều truyền thuyết, truyện kể đáng mến đáng yêu; tất cả đều nói lên công sức của cha ông trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, từng tấc đất ngọn rau quê hương đã thắm đậm bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu xương mà tiền nhân đổ ra để có được sự tồn tại của tổ quốc hôm nay. Nhắc nhớ di tích nơi này, thắng cảnh nơi khác, sinh hoạt lễ hội một địa phương nào... là dịp để chúng ta nhớ lại hình ảnh nước Việt mến yêu mà mỗi ai trong cuộc sống nầy khó thể quên, bởi "người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương, nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được”.

Với ý niệm đó, chúng tôi xin gởi đến bạn đọc chuyện kể về thắng cảnh hiếm có trong lòng thị xã Trà Vinh : AO BÀ OM.

Ao Bà Om nằm trong địa phận ấp Ba Se, xã Lương Hoà, Trà Vinh. Từ thị xã Trà Vinh theo hướng quốc lộ 53 về hướng Tây Nam chừng 5 cây số, đến cầu Bến Có, rẽ vào con đường đất bên tay trái chừng 600 thước sẽ gặp một cái ao dạng hình vuông khá chuẩn, diện tích chừng 120 ngàn mét vuông, xung quanh là đồi cát chập chùng và những cây dầu cao bóng mát hữu tình. Nơi đây vào những ngày lễ hội trong năm như Tết Nguyên Ðán (01 tháng 01 âl), Tết Ðônta (30 tháng 8 âl), lễ Ok Om Bok (15 tháng 10 âl) hay những lễ hội khác dập dìu những nam thanh nữ tú, áo quần đủ màu sắc kéo nhau về vui chơi nhộn nhịp, gợi lên hình ảnh yên ấm, thanh bình trong cuộc sống. Nhưng thú vị hơn là những ngày thường, du khách đến nơi đây sẽ cảm nhận bao điều thú vị trước cảnh sắc hữu tình. Buổi sáng khi mặt trời hãy còn ngái ngủ, sương hãy còn lãng đãng mặt hồ phủ một lớp mờ ảo như hình sương bóng khói. Buổi trưa ánh nắng rực sáng toả xuống mặt ao lấp lánh chói chang như những tia sáng bạc từ đáy ao toả lên chiếu vào những tàng cây râm bóng. Buổi chiều, nắng xiên qua kẽ lá của những hàng dầu cổ thụ chiếu trên mặt ao lấp lánh những gợn sóng hữu tình. Và buổi tối, dưới ánh trăng non thơ mộng, bóng lá rung rung trên vai những đôi tình nhân sẽ sàng dạo bước tạo cho du khách một niềm bâng khuâng khó tả. Nếu du khách đi có đôi, buổi trưa êm ả, gió lay những chiếc lá rì rào mời bạn hãy bách bộ trên những con đường nhấp nhô xung quanh mặt ao, len lỏi qua hàng ngàn gốc cây dầu mà theo thời gian, dưới tác động xâm thực của gió mưa, đất cát trôi đi để trơ lại những gốc rễ cây cao quá đầu người, tạo ra những hình thù kỳ dị, thật mỹ thuật, thật độc đáo. Xen lẫn vào đó như ẩn như hiện là những cổ tháp, mái chùa rêu phong của người Khmer. Thấm mệt, nước dưới ao luôn luôn trong vắt, sạch sẽ, mời bạn hãy khoát nước rửa mặt. Xong, ngả lưng trên bãi cỏ non, gối đầu bên những chiếc lá khô nhìn các cánh hoa dầu xoay tít mỗi khi có làn gió nhẹ thoảng qua, lòng bình tâm nghe tiếng líu lo, ríu rít của các loài chim đang ẩn mình trong tán lá đua nhau nhả nhạc gọi mời.

Từ thị xã Trà Vinh, chỉ vượt vài cây số đường để đến khu vực ao, trong đôi phút du khách có thể trút bỏ mọi lo toan của cuộc sống thường ngày để thật sự sống với thắng cảnh thiên nhiên, vui cùng cây cỏ chim muông để nghe lòng thanh thản, nhẹ nhàng. Nếu du khách thích hoài cổ, xin mời hãy ngồi lại nghe tiếng rì rào của hàng cây và tiếng lao xao của nước mặt ao kể lại những truyền thuyết về mình. Chuyện kể rằng:

Ngày xưa... xưa lắm, khi con người đặt chân đến đây thì ao đã có rồi. Mỗi năm cứ đến sa mưa là khắp ao và các cánh đồng lân cận mọc lên một loài rau, thơm như ngò và vô cùng xanh tốt - nên gọi là ngò om. Từ đó tên Ao Ngò Om ra đời. Dần dần biến âm thành Ao Bà Om.

Giai thoại nầy tìm thấy trong địa chí tỉnh Trà Vinh ghi: "Các cánh đồng Nguyệt Hoá, Lương Hoá mọc đầy rau ngò om. Bò xứ này nổi tiếng trên thị trường vì ăn toàn rau ngò om nên thịt rất thơm, ngon" (Ðịa chí tỉnh Vĩnh Bình - Cao Tấn Hạp chủ biên - bản in typo 1973, trang 26). Lại nữa, mãi đến những năm 1976, 1977 rau ngò om vẫn còn đầy cánh đồng từ sân bay Trà Vinh đổ lên Lương Hoà vào mỗi độ sa mưa. Chỉ gần đây, khi người dân trong vùng mỗi năm làm tới hai ba mùa lúa thì cây rau om mới bị diệt!

Lại có chuyện kể rằng:

Ngày xưa... xưa lắm, những người dân Khmer không chịu nổi cảnh nội chiến liên tục, do anh em trong hoàng tộc tranh giành quyền lực, dắt díu nhau, men theo dòng Mekong đến đất này, lánh xa vòng uy lực của hoàng triều Chân Lạp. Ðất mới, cuộc sống mới nên một số người trong thế hệ cư dân Khmer ban đầu ấy nẩy ra ý định đổi thay phong tục tập quán. Những người đàn ông chối bỏ trách nhiệm "đi cưới vợ”Ợ (kèm theo là phải chịu toàn bộ chi phí cưới hỏi) mà tập tục ngàn đời của dân tộc đã quy định. Tất nhiên cánh đàn bà phản đối mạnh. Câu chuyện khó ngã ngũ này dần dần đi đến một giao ước. Ðể ổn định sinh hoạt trên vùng đất mới, vấn đề đầu tiên được đặt ra là nước. Vì vậy, tất cả đàn ông, đàn bà trong phum được chia thành hai phe, trong một đêm đào hai cái ao lớn. Ðến sáng, ao nào lớn hơn, sâu hơn, chứa được nhiều nước hơn thì bên ấy thắng cuộc và phía bên kia phải đi cưới bên này. Cánh đàn bà, do Bà Om chỉ huy, biết mình sức yếu, ra sức miệt mài làm việc. Ngược lại, cánh đàn ông cậy khoẻ, đầu hôm cứ lo ăn nhậu, múa hát rồi ngả lưng ra ngủ vùi. Ðến nửa đêm, Bà Om cho đốt một cái lồng đèn rồi treo lên cây cao. Cánh đàn ông sực tỉnh cứ ngỡ sao mai đã quá đỉnh đầu, theo đúng giao ước, bỏ dở công việc, mắt nhắm mắt mở lục tục kéo nhau về. Sáng ra, ao của cánh đàn bà, to lớn, vuông vức, đầy nước. Còn ao của cánh đàn ông thì nông choẹt. Thậm chí người ta cũng không cần nhớ đến tên người đàn ông chỉ huy nữa, mà nhất nhất cứ là Ao Bà Om. Nhờ đó, Bà Om và cánh nữ trong phum đã giữ lại được quyền “được đàn ông đi cưới” cho cả dân tộc Khmer Nam Việt đến nay.

Tất nhiên, vẫn còn nhiều truyền thuyết khác, nhiều huyền thoại khác có thể còn hay hơn, hấp dẫn hơn, nhưng đã là truyền thuyết, là huyền thoại, là truyện kể của dân gian qua bao nhiêu đời, chắc hẳn không có sách vở nào khẳng định đúng sai. Nhưng truyền thuyết vừa kể vẫn còn để lại một chứng tích là, hằng năm cứ đến lễ Ok Om Bok cư dân Khmer quanh vùng kéo về đây múa hát, vui chơi và thả đèn lồng để nhắc nhở nhân vật Bà Om với lòng kính trọng trong tâm tưởng mọi người... Và, ai ai cũng hãnh diện với quê hương mình có một thắng cảnh thu hút nhiều du khách khi có dịp qua đây:

Biển Ba Ðộng nước xanh cát trắng

Ao Bà Om thắng cảnh miền Tây

Xin mời du khách về đây

Ghé thăm cho biết cảnh này thần tiên.

Bốn câu thơ trên không rõ tác giả là ai, chỉ biết rằng nó đã được phổ biến trong dân gian cách nay khá lâu và mặc nhiên trở thành ca dao của địa phương. Những câu ca dao nầy trước năm 1975 còn được kẻ chữ to, các pa-nô dựng trên bến xe khách Trà Vinh, bên dốc cầu Long Bình, hai nút đầu của tuyến đường đến biển Ba Ðộng.

Trà Vinh có hai thắng cảnh: Ao Bà Om là một, Biển Ba Ðộng là hai. Ðể bạn đọc hình dung được thắng cảnh thứ hai, tôi xin lược qua đôi nét về địa danh nầy: Truy nguyên trong "Gia Ðịnh thành thông chí" của Trịnh Hoài Ðức, đã mô tả về cù lao Ba Ðộng: "Cù lao Ba Ðộng dài bốn dặm, có dân cư ở đấy, đều trồng thuốc lá, khoai lang và làm nghề chài lưới, cây cối xanh tốt". Ðịa bạ Nam Kỳ năm 1836 thời Minh Mạng cũng có ghi: "Tam Ðộng xứ" (xứ Ba Ðộng) thuộc tổng Vĩnh Trị, huyện Trà Vinh, phủ Lạc Hoá".

Xứ Ba Ðộng xưa là một vùng rộng lớn bao gồm nhiều thôn, làng ở vùng ven biển. Sau nầy qua nhiều lần phân bố lại địa giới hành chánh, ranh hạn có thay đổi. Vào thời Pháp thuộc, sau đợt sáp nhập làng tổng năm 1927, Ba Ðộng thuộc làng Trường Lộc, tổng Vĩnh Trị, quận Cầu Ngang. Năm 1953, thực dân Pháp chia tỉnh Trà Vinh thành 7 quận, trong đó có quận Ba Ðộng. Quận Ba Ðộng lúc bấy giờ được tách ra từ quận Cầu Ngang và tồn tại đến năm 1956. Sau năm 1956, Ba Ðộng thuộc xã Hiệp Thạnh, quận Long Toàn. Hiện nay, dưới chế độ cộng sản, Ba Ðộng chỉ là tên một ấp nằm ở trung tâm xã Trường Long Hoà, thuộc huyện Duyên Hải. Ấp Ba Ðộng cách biển Ba Ðộng hơn 3 km. Trong một dịp khác, tôi sẽ có dịp tham khảo và giới thiệu thêm về thắng cảnh nầy cùng bạn đọc, cũng như tình cảm mà bạn tôi, anh Ðặng Tấn Ðức đã nghe các cụ kể nhiều mẩu chuyện lý thú: Chuyện bẫy heo rừng, chuyện đi cà khêu rồi sang chuyện "Gia Long tẩu quốc" - nhắc lúc Nguyễn Ánh khi bị Tây Sơn truy nã đã có một thời gian dài lưu trú ở vùng biển Ba Ðộng. Có những tên đất, tên thức ăn ở đây liên quan đến cuộc bôn đào của Nguyễn Ánh. "Giồng Giếng" là chỗ Nguyễn Ánh cắm gươm vái hoàng thiên hậu thổ để xin đào giếng lấy nước ngọt nuôi quân. Nước mắm rươi, thức ăn dân dã của vùng biển nầy được gọi là "nước mắm ngự" vì sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã dùng nó làm "ngự thiện". Chuyện kể về anh hùng dân tộc Nguyễn Xuân Phụng và Ðoàn Công Bửu tập họp nghĩa quân ở Hiệp Thạnh vào năm 1874, Lê Tấn Kế và Trần Bình nổi dậy ở Ba Ðộng vào năm 1875 v.v...; và anh cũng từng viết "Ðêm Ba Ðộng thật xao động lạ thường. Chuyện xưa chuyện cũ nay chập chờn trong giấc ngủ. Tiếng gió rít dài trên động cát. Âm vang con sóng vỗ bờ. Tôi mường tượng biển Ba Ðộng đang dâng lên dạt dào trong cơn mơ tím màu hoa muống biển".

 

LÊ CẦN THƠ

(Trích QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN,

tác giả tự xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ)