VẾT

KHẮC

 

 

truyện ngắn

 

PHƯƠNG DUY

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

LỜI GIỚI THIỆU:

Truyện ngắn VẾT KHẮC tác giả PHƯƠNG DUY, là một bút hiệu khác của DIỄM PHƯỢNG, được in trong Giai phẩm Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Cần Thơ số đầu tiên phát hành vào mùa Hè 1996 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Dù viết theo bối cảnh và nhân vật có thật ngoài đời, nhưng đây là truyện ngắn nên có những diễn biến và cấu trúc theo cách viết truyện của tác giả; tuy nhiên mỗi khi đọc lại tôi cảm nhận như quá gần gũi, gắn bó với cuộc sống ḿnh ở một giai đoạn đầy kỷ niệm trong đời.

Hằng năm, trước đây một lần, bây giờ là hai lần, ở hải ngoại nầy có hai nơi tổ chức đại hội gia đ́nh PTG & ĐTĐ: Úc Châu và Hoa Kỳ - (hoặc Canada...,) và cũng có thể một nơi nào khác. Đó là chưa kể đến những lần họp mặt truyền thống hằng năm của các cựu học sinh c̣n ở quê nhà. Đặc biệt năm nay, đại hội lần thứ IV vào đầu tháng 4 vừa qua tại Perth Úc Châu, và tháng 9 nầy tại Phoenix, tiểu bang Arizona Hoa Kỳ sẽ diễn ra đại hội lần thứ VIII-2004, tôi muốn giới thiệu lại truyện ngắn VẾT KHẮC của PHƯƠNG DUY, tức DIỄM PHƯỢNG, trên trang nhà của chúng ta để mong gởi gắm chút t́nh cảm xa xưa của thời niên thiếu nơi mái trường PHAN trường ĐOÀN ắp đầy kỷ niệm mà các đồng môn thập niên 60-70 chắc sẽ bắt gặp lại những kỷ niệm thân t́nh có ḿnh trong đó. Bởi truyện ngắn nầy in trong giai phẩm số đầu tiên ở hải ngoại, số lượng phát hành chỉ trên dưới một ngàn số, nếu thầy cô và đồng môn nào có dịp đă đọc rồi cũng cảm thông và lượng thứ.

Xin cảm ơn tác giả đă chia sẻ với số đông những t́nh cảm diễn biến mà tác giả biểu hiện trong truyện nầy.

LÊ CẦN THƠ

 

Tôi lặng yên nh́n người đàn bà ngồi nép ở băng ghế đặt ngoài hành lang lớp học. Giọng kể chuyện của bà buồn buồn như c̣n đọng lại những âm vang xao xuyến ngày xưa. Đă hai mươi tám năm qua, mái tóc xanh của cô nữ sinh ngày nào giờ đây đă điểm bạc. Tôi vẫn cố nh́n vào đôi mắt để t́m ở đó một chút ǵ tinh anh c̣n sót lại. Thời gian khắc nghiệt đă mang đi tất cả màu xanh tươi trẻ của thời con gái, mà bây giờ ở bà, tôi vẫn c̣n cảm thấy phảng phất một chút ǵ nét duyên dáng, phúc hậu xa xưa rất đáng trân trọng.

Người đàn bà đang ngồi trước mặt tôi đến t́m thăm trường lớp cũ. Chính ở pḥng lớp nầy, theo lời bà nói, ngày xưa đă một thời bà ngày ngày có mặt đến nỗi quen thuộc như chính ngôi nhà mà bà đă được sinh ra và lớn lên tại đó. Không lầm lẫn được dăy bàn đặt gần khung cửa sổ có một nhánh phượng vươn ra và gốc phượng già cằn cỗi vẫn c̣n mang dấu tích của mũi dao khắc tên những người tuổi trẻ năm xưa. Thật thế, tuổi trẻ của bà đă bị trôi vào chiến cuộc khốc liệt ngày nào, để bạn bè và người yêu nhau phải phân ly..., có người phải vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất quê hương đặc dầy bom đạn, có người phải bị tàn phế sống đời tẻ nhạt bên cạnh sự đua chen đến chán chường. Có người đă bỏ quên bạn bè, chạy theo viễn ảnh không thật để sống cuộc đời gian khổ, chết mất xác ở rừng sâu nước độc, thân nhân bạn bè không hề biết tin. Có người c̣n sống sót sau chiến tranh, đang tạo lập cuộc sống nơi xứ lạ quê người mà tâm hồn tha hương vẫn thương nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có đường xưa lối cũ ṃn gót chân quen, nơi có mái trường từng in bóng tuổi học tṛ nhiều mộng mơ kỷ niệm.

Bà là người c̣n sống sót sau chiến tranh, đă di tản khi biến cố năm 1975 và bây giờ được dịp trở về đây, ngồi ở băng ghế ngồi ngày cũ. Người đàn bà quá tuổi trung niên là một người Việt sống nơi xứ người nhưng có mặt hôm nay trong trang phục b́nh dị của một người phụ nữ Việt Nam, không lộ vẻ Việt kiều như một số đông những người khác từ nước ngoài về thăm quê hương, đang sống lại những kỷ niệm trong sáng của ḿnh. Bà đă say sưa kể lại từng mẫu chuyện vui buồn của cuộc đời bà cho tôi nghe.

 

Thời chúng tôi học, chiến cuộc bên ngoài trở nên khốc liệt. Nhớ lại năm học lớp Đệ Nhất của chúng tôi thật nhiều kỷ niệm. Gần Tết năm 1968, chúng tôi và các khối lớp Đệ Tam, Đệ Nhị, kể cả các lớp Đệ nhất cấp cũng tham gia đêm lửa trại thật vui. Nhóm tổ chức của chúng tôi đă dự trù các tiết mục sinh hoạt thật hấp dẫn, trong đó ban báo chí sẽ kêu gọi các bạn viết bài cho tập san tại chỗ và viết theo trí nhớ của ḿnh những bài thơ đă có từ trước, hoặc mới viết càng tốt, để làm thêm một tập thơ nữa. Như vậy, khi kết thúc đêm lửa trại, chúng tôi phát hành tập san LỬA TRẠItập thơ chung của nhiều tác giả mang tên GIẤC LỬA. Tất cả bài vở ai viết xong th́ giao cho ban báo chí đọc và sửa chữa, đánh máy lên stencil rồi kẻ vẽ trang trí như trang báo, để quay ronéo liền, đến sáng đủ số trang sẽ đóng lại thành tập. Bài vở có thầy Lê Văn Quới và thầy Lai Thanh Ṭng đọc góp ư. Các anh Viện, Nghiệp, Sơn, Dần, Kim, Tuấn, Phúc... lo đánh máy, kẻ vẽ và quay ronéo.

Trong khi nhóm báo chí rối rắm bao công việc th́ ngoài sân dưới ánh lửa bập bùng, tiếng đàn hát, tiếng vỗ tay, giọng kể chuyện cứ liên tục không ngưng nghỉ. Nhiều câu chuyện được đặt ra. Nhiều ư kiến đóng góp. Những đêm ngày tuổi trẻđề tài được lồng khung trong sinh hoạt đêm lửa trại, là tiếng nói của tuổi trẻ học sinh chúng tôi thời đó. Nếu như chỉ có bấy nhiêu cũng chưa phải đậm sâu dấu ấn cho riêng tôi. Bởi v́, trong một đời người, nhất là vào thời con gái mới lớn, đang có nhiều băn khoăn trăn trở trước cuộc sống th́ chuyện quyết định t́nh cảm là dấu ấn đậm sâu hơn hết. Chính đêm lửa trại nầy, chuyện t́nh ban đầu của tôi bắt đầu bước vào lối đi mà tôi nghĩ là đậm đà hoa bướm. Dũng đă chính thức nói yêu tôi sau rất nhiều tháng ngày anh ngầm theo đuổi tôi từ trong lớp học đến bên ngoài. Tôi nhớ rất rơ, đêm đó, Dũng thừa dịp tôi đứng cạnh bên anh, tất cả nắm tay nhau đi xoay ṿng quanh ngọn lửa sáng rực giữa sân, đột nhiên bàn tay anh bóp mạnh bàn tay tôi đến ba lần như vậy. Ban đầu tôi nghĩ là anh vô t́nh hay sơ ư, nhưng... đến khi chúng tôi buông tay nhau ra, Dũng chợt ghé sát tai tôi nói nhỏ: "Thúy có thể lánh ra ngoài gốc cây phượng đằng kia, Dũng muốn nói vài chuyện quan trọng!". "Chuyện ǵ vậy?". "Ra đó đi, Dũng chờ”...

Rồi dù c̣n ngần ngại sợ bạn bè biết ḿnh lẻn đi gặp riêng Dũng, một cây đinh của đêm lửa trại, v́ Dũng có giọng nói hoạt bát, lanh lợi và thật duyên dáng, anh lại ca hay, đọc thơ và ngâm thơ rất điêu luyện... th́ kỳ lắm, nhưng thú thật, từ nhiều ngày qua, tôi cũng thầm có cảm t́nh với Dũng, nên dịp nầy tôi cũng đánh liều tách khỏi hàng để đi về phía có anh đang đợi.

Và, chuyện bày tỏ t́nh yêu của Dũng với tôi bắt đầu ở thời điểm đó. Tôi nhớ, khoảng nửa đêm, trong khoảng tối bên gốc cây phượng già, tôi rụt rè đứng cạnh Dũng, bất chợt, Dũng nắm chặt tay tôi. Anh nói những lời lí nhí tôi không thể nào nghe rơ, bởi giọng anh run run, hơi thở dồn dập rất khác lạ với cách nói chuyện dơng dạc trước đám đông ngoài lửa trại. Với giác quan của người con gái, tôi h́nh như đoán được chuyện hệ trọng sẽ đến với ḿnh. Dù tôi có chuẩn bị tinh thần, nhưng cũng cuống đi, chỉ nghe bên tai ḿnh tiếng nói sẽ sàng của Dũng. H́nh như anh có nói: "Anh yêu Em". Có lẽ anh cố nói rơ ràng và tṛn vẹn câu đó rồi vụt buông tôi ra, quay nh́n quanh quất sợ nhóm bạn thấy được sự ḥ hẹn lén lút của ḿnh. Tôi chưa trả lời và cũng không tỏ vẻ kháng cự, nên Dũng chắc ngầm hiểu rằng, tôi cũng đồng xúc cảm t́nh yêu với anh. Chúng tôi mỗi người mang một cảm giác mới lạ, tự tách nhau ra và trở về tiếp tục dự lửa trại mà các bạn v́ vô t́nh chẳng biết vừa mới xảy ra chuyện ǵ.

Gần mờ sáng, Dũng rủ thêm mấy người bạn, trong đó có tôi, đến bên gốc cây phượng mà hai chúng tôi cùng đứng bên nhau lúc giữa khuya, anh chuẩn bị sẵn một con dao nhọn, đề nghị mỗi bạn tự khắc tên ḿnh vào thân cây để kỷ niệm. Dũng khắc rất đậm tên anh rồi đưa tôi, tôi lại đưa cho Nga, cho Nghiệp, cho Thi, cho Tuấn, cho Hoa, cho Toàn... Tất cả là 4 cặp tên, mà sau nầy thành bốn cặp trai gái yêu nhau, ra đời có người thành nghĩa vợ chồng, có người lại phải chia tay do định kiến gia đ́nh hay do hoàn cảnh sống ngoài xă hội. Dưới 8 chữ tên khắc sâu khỏi lớp vỏ xù x́, lớp vỏ có thể bị trốc đi, nhưng lớp gỗ của thân cây sẽ c̣n sống măi với cây, chúng tôi lại khắc thêm ngày tháng. Ba cặp bạn kia vô t́nh nhưng tôi và Dũng th́ ngầm hiểu rằng, tháng ngày khắc vào thân cây là tháng ngày đáng nhớ của hai chúng tôi. T́nh yêu của hai người khởi đầu từ năm tháng đó...

Mấy hôm sau vào lớp, tôi lại ngạc nhiên thấy tại mặt bàn chỗ tôi ngồi, lại có vết khắc tên tôi và Dũng quyện chặt nhau, vết khắc nét rất sắc và mảnh, có lẽ tránh cho nhiều người dễ thấy. Tôi biết Dũng đă từng vào lớp sớm và làm việc nầy, khiến tôi cảm động. Và chúng tôi thật sự yêu nhau, tin nhau trong những tháng ngày kế tiếp.

Thế nhưng, cuộc tổng tấn công năm Mậu Thân 1968 vào nhiều thành phố miền Nam lúc mọi người đang vui hưởng Tết cổ truyền đă làm cản ngại cho chuyện t́nh yêu tuổi trẻ chúng tôi. Sau Tết một thời gian, lệnh Tổng động viên trên toàn lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa đă chính thức được ban hành. Tuổi trẻ lại phải khăn gói lên đường để bảo vệ tổ quốc. Dũng và nhiều học sinh đang theo học phải từ giă mái trường thân yêu để tŕnh diện nhập ngũ. Cay đắng và xót xa hơn cho lớp trẻ chúng tôi, sau biến cố Mậu Thân, trong số bè bạn chúng tôi chơi thân nhau lại có người từ bỏ bạn bè, trường lớp, thầy cô để vào chiến khu làm cách mạng, như Thanh Sĩ, Bảy Đỗ, Chí Ường,..., như thầy Long (ủy viên báo chí của trường vào khu và bị chết ở chiến trường miền Đông). Những bạn bè theo lệnh gọi nhập ngũ, đă ồ ạt vào Quang Trung rồi Thủ Đức để được cấp tốc đào tạo làm Sĩ Quan kịp cung ứng nhu cầu cho chiến trường. Dũng vào trung tâm 4 tuyển mộ và nhập ngũ măi đến bốn tuần lễ sau mới được chuyển lên TTHL Quang Trung học giai đoạn I, và sau đó sang Thủ Đức học giai đoạn II. Thời gian học của Dũng tuy ngắn, nhưng do t́nh h́nh an ninh khá đặc biệt, anh chỉ được hưởng một hai lần đi phép ra Sài G̣n, các tuần khác th́ bị cấm quân, cấm trại liên miên. Ra trường, Dũng về một đơn vị ở miền Trung xa xôi, chúng tôi chỉ c̣n liên lạc nhau bằng thư từ nhờ con dấu KBC. Dũng chưa hề than thở với tôi điều ǵ, nhưng qua những lá thư anh viết vội vă, cho thấy bước chân anh dẫm lên khắp mọi nơi rừng sâu hiểm trở, núi non điệp trùng và thiếu thốn nhiều tiện nghi trong đời sống quân nhân. Binh lính anh bị thương tích cần sự săn sóc của Y Tá th́ đơn vị anh lại không đủ thuốc men, v́ cứ ba lần phi cơ thả dù tiếp tế th́ đă hai lần lọt vào khu vực của địch quân. Chính những lời tâm sự như vậy nên tôi thấy ray rứt trong ḷng, và trong một đêm trằn trọc suy nghĩ, tôi quyết định t́nh nguyện vào ngành trợ tá xă hội. Sau một thời gian thụ huấn tôi ra trường và được chuyển về một chi đội Nữ quân nhân đóng tại Tiểu khu nhà. Tôi làm đơn thỉnh nguyện được ra các đơn vị tiền tuyến nhưng không được chấp thuận. Và tôi lại sống khá nhàn nhă ở chi đội 2 Nữ quân nhân đồn trú tại An Thôn Trang cho đến ngày biến cố 30-4-75.

Suốt thời gian phục vụ tại chi đội Nữ quân nhân, tôi chỉ nhận được của Dũng vỏn vẹn 3 lá thư phát rất chậm, và sau cùng chẳng biết tin tức ǵ của anh nữa. Gia đ́nh anh không liên lạc được anh. Họ có thư từ khiếu nại lên cấp chỉ huy của anh nhưng ban quân số đơn vị báo là bị mất tích trong một trận chiến quyết liệt ở bên chân dăy Trường Sơn. Và, họ giải quyết t́nh trạng mất tích của một quân nhân theo đúng thủ tục đối với gia đ́nh Dũng. Tôi sống cuộc đời buồn tẻ sau đó cho đến ngày chiến cuộc kết thúc, với niềm tin là Dũng vẫn c̣n sống, sẽ có một ngày anh trở về sum họp với gia đ́nh và chính thức chung sống với tôi như hai chúng tôi hằng mong ước tại sân trường Phan Thanh Giản thân yêu.

Rồi, tin vẫn bặt tin. Tôi đă di tản sang Hoa Kỳ và lập nghiệp đến ngày nay. Tôi vẫn sống độc thân với niềm tin là Dũng vẫn c̣n sống, tôi sẽ t́m gặp lại người yêu dù đă gần ba mươi năm qua hai chúng tôi không hề gặp lại mặt nhau, dù chính tôi biết được anh đă bị mất tích trong chiến trận, và... bây giờ cuộc đời đă có nhiều đổi thay.

Trở về nước lần nầy, nhân dịp nhà trường tổ chức cho các học sinh cắm trại, tôi muốn trở lại trường xưa để t́m lại chút kỷ niệm thuở c̣n ngồi dưới mái trường. Cách đây vài hôm, tôi cũng có gặp lại Nghiệp, Nga, có hỏi thăm tin tức bạn bè chung học ngày xưa. Bạn bè th́ kẻ c̣n người mất. Người vào khu phần đông chết mất bởi đạn bom, ai c̣n sống trở ra th́ quyền cao chức trọng, đi xe hơi ở nhà lầu... tịch thu của những người bỏ nước ra đi. Người ở lại th́ cuộc sống khó khăn chật vật, mọi sinh hoạt đều bị thu hẹp bởi ḿnh có dính dấp gốc ngụy ở sau lưng! Làm bao nhiêu ăn bấy nhiêu, không khá lên được. Dũng th́ vẫn bặt tin và chính gia đ́nh của Dũng cũng đă dời đi xứ khác không ai c̣n biết hiện họ sống nơi nào. Vật đổi sao dời. Biết như vậy, nhưng tôi vẫn muốn trở về đây, trở lại ngôi trường mà thuở học tṛ đă bảy tám năm tôi miệt mài ở đó chỉ v́ kỷ niệm. Con người sống mà thiếu đi kỷ niệm là thiếu mất bao nhiêu ư nghĩa trong cuộc đời...

Thật xúc động, tôi bàng hoàng trước câu chuyện bà kể. Đúng, con người sống mà thiếu đi kỷ niệm là thiếu mất bao nhiêu ư nghĩa trong cuộc đời. Tôi nh́n sâu vào đôi mắt của bà, đôi mắt như ch́m trong nỗi xa xăm tưởng nhớ. Tôi vẫn bồi hồi theo dơi sự biến đổi trên khuôn mặt của người đàn bà, có lẽ tôi đang sợ sẽ bắt gặp ở đó một dấu hiệu không vui. Nhưng... thật may mắn, bà ấy dịu dàng hướng mắt nh́n tôi, nói tiếp:

- Con người ai cũng có số mạng. Trường hợp mất tích của Dũng rồi cũng được xác nhận rơ ràng. Chuyến về thăm quê hương lần nầy, t́nh cờ tôi gặp được Sơn, bạn học cũ của chúng tôi ngày đó, giờ anh là phế binh lại bệnh bán thân bất toại, quanh năm suốt tháng nằm liệt trên giường, cuộc sống gia đ́nh thật chật vật rất đáng lo. Vợ anh phải tần tảo nuôi đàn con và chồng phế nhân. Tôi đến thăm gia đ́nh Sơn, trước t́nh cảnh đó, chỉ biết ngậm ngùi chia sẻ tấm ḷng bạn hữu với nhau, ngoài chút ít tiền bạc không đáng là bao so với nhu cầu mà gia đ́nh Sơn cần có. Nhưng biết làm sao hơn! Sơn đă cho tôi biết được, anh và Dũng khi ra trường được về cùng đơn vị. Lần chạm súng dữ dội với địch quân bên chân dăy Trường Sơn, Dũng bị thương và bị địch bắt sống làm tù binh chung với anh. Trong một đêm tối trời, anh và Dũng đă hẹn nhau trốn khỏi trại giam của chúng. Bị phát hiện, chúng nổ súng và Dũng đă bị trúng đạn chết tại chỗ. Sơn thoát khỏi ṿng vây và chui rúc trong rừng sâu đến hơn nửa tháng mới được gặp một người Thượng đi rừng cứu giúp đưa về một đồn Nghĩa quân gần đó. Sơn được đưa vào trạm an dưỡng mấy tháng, lại ra đơn vị tác chiến đến sau Hiệp định Paris 1973 anh bị thương nặng phải xuất ngũ. Do ảnh hưởng của vết thương mà những năm sau nầy anh bị bán thân bất toại phải nằm liệt một chỗ. Con người ai cũng có số mạng. Tội cho anh Dũng !

 

Những chữ sau cùng dường như người đàn bà chỉ muốn nói thật khẽ để đủ cho một ḿnh bà ấy nghe thôi. Ḷng cũng chợt thấy buồn buồn, tôi thẫn thờ yên lặng.

Sân trường không ngớt người qua lại, từng tốp từng đoàn chia nhau đi thăm lại trường lớp cũ, tay bắt mặt mừng, có người không e dè đă ôm chầm những Thầy, Cô giáo cũ bây giờ đă lăo thành, những người bạn cũ mà bây giờ tóc ai cũng đă điểm bạc bởi tuổi đời và bởi gió bụi thời gian.

Trong các lều trại của các em học sinh hiện đang học tại trường, tất cả quây quần nhau sinh hoạt vui chơi, hay đang say sưa nghe các cựu học sinh thế hệ trước kể lại những kỷ niệm về trường lớp, thầy cô với bao nhiêu buồn vui...

Tôi là một cô giáo mới ra trường và được phân công trở lại dạy trong ngôi trường cũ của ḿnh. Chính ngày hôm nay tôi cũng gặp lại thầy cô, gặp lại bạn bè với biết bao nhiêu bùi ngùi xúc động. Nhưng người đàn bà đang ngồi trước mặt tôi, chưa bao giờ quen, đă gây trong tôi một dấu ấn đặc biệt. Bà đă tách rời những ḍng người vốn là quan khách đến dự buổi khai mạc trại của nhà trường, đi riêng lẻ đến đây, đứng lặng bên khung cửa sổ nh́n vào lớp học trống vắng. Tôi bắt đầu chú ư đến bà từ lúc đó. Chú ư không phải bà mang dáng dấp Việt kiều với nước da trắng hồng khác lạ màu da quen thuộc của những người đàn bà mà tôi gặp thường ngày, dù bà ăn mặc rất đỗi b́nh thường, không có ǵ đặc biệt nổi bật, mà tôi chú ư đến đôi mắt và dáng vẻ khác lạ của bà.

Tôi đến bên bà đang ngồi trên chiếc băng học tṛ kê ở hành lang cạnh cửa sổ của lớp học lúc bà đang hướng mắt nh́n vào trong lớp trống vắng như kiếm t́m một cái ǵ quư báu lắm (?). Và tôi đă tiếp chuyện thật thân t́nh với bà.

Đột nhiên, bà đứng lên và nhanh nhẹn bước lại gốc cây phượng già trước cửa lớp. Bà đưa tay lên sờ lớp vỏ bên ngoài, rồi như cào t́m phía bên trong từng sớ thịt của cây, ngón tay như mân mê tŕu mến vật ǵ đang bám trên thân cây già cỗi. Tôi đi nhẹ về phía bà và để ư quan sát. Thật t́nh lúc trước tôi có lần nh́n thấy nhưng không mấy chú ư những vết khắc mờ mờ trên thân cây phượng. Bây giờ đứng nh́n cử chỉ lạ lùng của người đàn bà, tôi chăm chú đọc kỹ, th́ ra đó là những cái tên. Thời gian đă làm mờ nhạt vết khắc, phải cố ư lắm mới đọc được. Biết tôi đứng nh́n, người đàn bà quay lại và qua câu chuyện tôi đă hiểu ít nhiều về bà.

Khi cảm thấy tiếp chuyện với người đàn bà khá lâu, tôi có ư định mời bà về hội trường nhưng bà lắc đầu từ chối. Một tốp bốn năm học sinh tung tăng chạy về phía tôi, ríu rít :

- Cô... năy giờ tụi em đi t́m cô về trại ḿnh ăn chè. Có mấy cô mấy chú cựu học sinh đang kể chuyện kỷ niệm về trường trong đó vui và cảm động lắm !

Tôi quay lại nh́n học tṛ, mỉm cười chỉ người đàn bà :

- Các em hăy mời bác về trại của lớp chúng ta. Các em có biết không, bác đây trước kia đă từng ngồi học ngay tại pḥng lớp nầy.

Chỉ vào cây phượng, tôi xúc động tiếp: "Và những vết khắc trên thân cây là kỷ niệm của bác ấy vào một đêm dự lửa trại đáng nhớ trong đời của bác...”.

Bốn năm mái đầu chúi vào nh́n thân cây phượng. Những bàn tay đưa lên sờ mó. Các em long lanh đôi mắt hướng về phía người đàn bà với đôi mắt ươn ướt. Rồi cùng một lúc các em nhao nháo hỏi:

- Bác ơi... hồi đó bác ngồi bàn nào vậy ?

Người đàn bà im lặng đi thẳng vào lớp đang trống vắng, dừng lại bên dăy bàn cạnh khung cửa sổ. Bà ngồi xuống một chỗ, đưa mắt nh́n quanh rồi lặng lẽ khóc. Tôi ra dấu cho học tṛ im lặng, bằng một cái khoát tay nhẹ nhàng. Thầy tṛ tôi trước sau cũng phải mời bà đến với trại của lớp ḿnh, nhưng trong lúc nầy, chúng tôi xin trả lại giây phút thiêng liêng trân trọng cho người nữ sinh ngày ấy. Tôi biết, chính trong khung cảnh nầy, bà đang nhớ lại phút giây xao xuyến của đêm lửa trại năm nào, nhớ bóng dáng Dũng - người yêu đầu tiên cũng là cuối cùng trong cuộc đời thủy chung rất đáng quư trọng mà chưa chắc ǵ trong xă hội hôm nay t́m được người đàn bà thứ hai như thế. Thời gian vụt chốc thoáng qua, khắc nghiệt cả trên mái tóc, dáng đi... mà trái tim yêu thương của mỗi con người vẫn như mới hôm nào, ngạt ngào, nồng ấm.

 

Nhớ về trường PHAN năm xưa

Houston, 1996

PHƯƠNG DUY