NHỚ

CHUYỆN

RUỘNG ỒNG

 

bi của

L CẦN THƠ

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

Cng lớn tuổi người ta cng c nhiều pht giy ngẫm ngợi lại chuyện đ qua. Ban ngy lm việc nhiều, đm về đng l dnh thời gian nghỉ ngơi... thế nhưng "ngủ" chẳng được bao nhiu m cứ gt tay trằn trọc suy nghĩ chuyện đu đu. C hm ngủ sớm, con chu thấy vậy mừng thầm..., vậy m khuya lơ khuya lắc chợt nhin mở bừng đi mắt ro hoảnh nhn trong mn đm đy đặc. Cố nhắm nghiền mắt lại để dỗ giấc nhưng khng sao ngủ tiếp được, đnh phải thức trong đm. Rồi th bao nhiu chuyn xảy ra trong đời cứ lun phin trở về tm tr. Chuyện mới xảy ra trong ngy, trong tuần, trong thng, trong năm... Rồi chuyện thời xa lắc xa lơ chẳng biết từ bấy lu nay chui rc nơi đu, nay lại hiện ln như một mn ảnh truyền hnh, bắt mnh phải nhớ, nhớ một cch chi li. l nguyn nhn c bi viết ngắn nầy, mong bạn đọc cảm thng v chia sẻ cho.

 

UỔI BẮT CHIM TRN RUỘNG LA

Lc cn ở qu nh, mỗi lần c dịp đi qua ph Mỹ Thuận c lẽ bạn gặp cảnh bn chim r-ti vng hực thơm lừng trn cc tiệm bn cơm cho khch qua đường, hay cc c gi bưng trn cc mm chất đầy chim hết sức quyến rũ? Bạn cũng bắt gặp những chị, những em cầm từng chm chim sống, mỗi chm một chục con lớn nhỏ chạy theo cc xe chờ qua ph hay ph vừa cặp bến để mời khch qua đường mua lm qu tặng thn nhn? Chim l mn ăn ngon v dĩ nhin gi chim cũng đắt so với những loại thức ăn khc. Nhưng để c được chim bn ngoi chợ, nơi bến ph, người dn phải trải qua giai đoạn săn bắt khng km phần vất vả. - ồng Thp Mười v l đồng cỏ bạt ngn nn rất nhiều chim sinh sống ở đ, l chỗ để người dn tm mọi cch săn bắt để đổi lấy ci ăn ci mặc. Chim trời c nước, ai bắt được nấy ăn. ng b ta khi xưa từng ni như vậy.

Bắt chim, người ta c nhiều cch: cắm cu, soi đn, đuổi bng, gi bẫy, quất bằng cy..., phần đng l trn ruộng la đang chn, v lc đ chim mới gom về để kiếm ăn. Ngy trước mỗi năm chỉ lm ruộng một ma, nn khoảng thời gian từ thng mười một, thng chạp, thng ging m lịch l lc c la chn đồng, mới c nhiều chim để bn. Sau nầy do lm la thần nng, mỗi năm hai ba vụ nn hầu như lc no cũng thấy c bn chim. Chim bn ngoi chợ thường l dỏ dẻ, ốc cao, chằng nghịt (g nước), thỉnh thoảng mới thấy bn chim quốc, le le... Thịt chim ngon nhứt l ốc cao (mắt đỏ), chằng nghịt v dỏ dẻ, nn khi mua, người ta thường lựa những loại chim đ.

Việc bắt chim để bn đ trở thnh "nghề nghiệp", ti khng ni r ở đy, m chỉ kể vi cch thng thường c tnh cch gia đnh m vng qu ti đ thực hiện vo những năm ti cn thơ trẻ.

Cắm cu chim: Thường vo ma nước rt, la bắt đầu chn vng, trn ruộng cc loại c tp cũng theo con nước xuống cc chỗ trũng để tiếp tục sống. Mặt ruộng cạn nước, nn loi chim cũng lội dẫm dấu trn đ để tm mồi. Chng ti mua lưỡi cu c lng tong (lưỡi nhỏ), tm dy chỉ (sau nầy xi dy gn), di độ 3 tấc, đầu kia cột vo lng sậy, mc con tp vo lưỡi rồi ra khu ruộng la chn c vũng nước, cắm cc lưỡi cu c tp. Cứ rải đều như vậy hằng trăm lưỡi, một vi giờ trở lại thăm. Chim thấy tp th mổ ăn, nuốt vo sẽ mắc lưỡi, ban đầu cn giy giụa, đến khi mệt chỉ cn nằm im chờ... người đến tm lấy bỏ v giỏ. Bẫy chim cch nầy, c lẽ bạn cũng phần no để , v khi mua chim sống về lm thịt, thường bạn thấy c lưỡi cu mắc trong cổ hay trong bong bng chim!

Quất chim bằng roi: Bắt chim cch nầy thường th hai ba người cng rủ nhau đi vo cc khu ruộng c nhiều chim đang ku ăn trong đ, nhưng chủ ruộng khng cho mnh lội dẫm rụng la hột. Mỗi người cầm một cy tầm vng nhỏ, di mấy mt như cần cu nhấp (cu r), vừa đi cặp m ruộng, vừa đuổi h h" bằng miệng, hay g vo thng thiếc gy tiếng động, chim đang ăn dưới ruộng hoảng sợ vụt bay ln, người cầm roi nhanh chng quất, nếu may mắn sẽ trng vo cnh v chim rớt xuống... lc đ mới lội v bắt. Săn chim cch nầy được rất t, chỉ đủ để ăn một bữa trong gia đnh m thi.

uổi chim bằng bng (lọp): Cch nầy sẽ bắt được nhiều chim hơn, c thể dư ăn v cn đi bn nữa. Người ta dng ci bng (giống như ci lọp đặt c), đặt vo một nơi c nhiều chim đi qua, hai bn miệng bng trải đăng chạy di tạo thnh hnh chữ V, pha bn trn miệng bng phủ lớp cỏ hay rơm. Khi chim bị đuổi dồn, đến gặp m đăng sẽ chạy lần tới miệng rồi nột qu chui vo bng - trường hợp vỗ cnh bay ln cũng kh thot v đ c lớp cỏ hay rơm phủ chận. uổi chim cch nầy cũng khng cần phải lội vi ruộng la, m người ta cột nhiều ci lon sữa b c đụt lỗ bỏ đ hay cy đinh vo rồi cột nhiều ci v một sợi dy luộc di, căng ngang khu ruộng. Từ hướng pha trước miệng bng một khoảng xa, người ta căng dy rồi giựt mạnh, tiếng động leng keng ho với tiếng la của nhiều người... chim sợ phải tm đường trốn chạy. Những con chim lớn vỗ cnh bay ln sẽ bị "quất" rớt xuống, những con chim nhỏ cỡ ốc cao, chằng nghịt, dỏ dẻ... th co chn chạy tm chỗ thot thn; cng chạy, chng cng gần "rọ", để rồi... tất cả lại gặp nhau trong chiếc bng hết sức bng lộn, chen nhau ở đ ku ch cho. Tới nơi người ta chỉ cần giở bng ln, tho đt bng, thọc tay v bắt từng c ch chim để v giỏ như người ta lm một tr chơi khng hơn khng km! Thỉnh thoảng cũng c mấy ch chuột đồng lẻ bầy đi ăn vụng ban ngy hoảng hốt chui vo hay một vi con chồn mướp chẳng may tm vo bng trước, nhất l chồn, th lần đuổi bắt chim nầy xem như thua, v khi chồn chui vo trước sẽ giy giụa lm ci bng rung rinh, chim bị đuổi n tới chẳng dm chui vo m bay ta ra bất kể hiểm nguy!

Chim đuổi được đem về lm lng, ướp chim r-ti hay kha nước dừa, l mn ăn ngon nhiều người ưa thch.

 

ẶT TRM BẮT LƯƠN

 

Lươn l mn ăn kh quen thuộc trong mỗi gia đnh: lươn xo sả ớt, lươn um, nấu canh chua, kho mắm, xo lăn v.v... - qun nhậu, canh chua lươn cn gọi l "lẩu lươn"! l mn ăn đặc sản, hấp dẫn. Nhưng c khi no bạn nghĩ tới cch "bắt n"? Cng phu v "trầy trật" lắm bạn ơi!

Vo ma kh, người ta c thể tm "m" (để xc định miệng hang trong đ c lươn) rồi đo, xom bằng chĩa hoặc cu bằng lưỡi cu c mồi thuốc. Ma nước th "đặt trm l cch phổ biến nhất.

"Trm" l tn gọi một loại bẫy để bắt lươn. N được lm bằng ống tre di khoảng một thước, cc mắt bn trong được xoi thủng, mắt cuối ống để nguyn cho kn. Lng tre cuối người ta vi vi lỗ trn, hay khot một khe nhỏ để khng kh lọt vo cho lươn thở m khng thể chui ra được. ầu ống c một ci hom bện rất kho, lươn chui vo theo thế xoay trn, khi vo được th khng thể trở ra. ể hom khng rớt ra, c một cy gi nhọn đầu xỏ ngang, khi đặt trm cy ny ghim su xuống đất, phần trn quấn v cỏ cho miệng trm khng nổi ln. ầu trm kia nhỏng ln trn cho khng khi lọt v cc lỗ hay khe hở cho lươn thở.

Trm đặt ban đm, sng mới đem về. Khi đặt trm phải để mồi vo ống. Mồi c hai loại: mồi nấu hay mồi đất (gồm đầu ruột c, ếch nhi v.v...) nấu xong trộn với đất bn rồi tm vo miếng l mn), mồi nướng (ếch nhi, thi li v.v...). Cả hai loại mồi đều c trộn cm cho thơm. Thường người ta đặt lươn trn những mương nước đọng (nếu nước chảy thng thương cũng t thi, c nhiều cỏ, lục bnh, v lươn hay ở những nơi đ), hay trn ruộng c trầm thủy (đặt dọc theo cc giồng cỏ, m mương). Miệng ống trm quay về hướng dưới gi hoặc pha trn nước" để mi thơm của mồi theo gi hay xui nước cho lươn bắt đuợc mi... dẫn xc tới chui vo ống l đ chấp nhận "khng hẹn ngy trở lại với đồng bọn, với khoảng trời tự do! Sng ra bạn chỉ việc giở ống trm ln với cảm gic đặc biệt: ống trm no nặng trịch, khng c nước, hoặc nước trong ống chảy ra nhơn nhớt, l chắc ăn, lươn đ nằm chen trong đ lềnh khnh"! Về tới nh, bạn lấy hom ra trt ngược ống trm v rổ xc, những con lươn vng hườm hay đốm bng đen vng b lểnh nghểnh... pht ham!

C một lc gi tre qu đắt, mỗi ma trm phải tốn rất nhiều, người ta c thể thay thế ống tre bằng loại "tự chế rẻ tiền": đ l lấy bẹ chuối ốp lại, để hom vo rồi lấy dy chuối quấn xung quanh, đem đặt bnh thường. Sng ra đi gom, thấy ống no lươn chun v th trt v xuồng hay giỏ rồi quăng ống bẹ chuối, lấy ci hom để tiếp tục đặt cho đm hm sau. Một cy chuối c bao nhiu bẹ l được bấy nhiu ống trm. Lo xong mồi, ra vườn chặt mấy cy chuối (đ đốn buồng) chở ra ruộng l ta c mấy chục ống trm.

Nếu c dịp về miền qu sng nước đồng bằng sng Cửu Long quanh năm ph sa nước ngọt như vng Trường Long - Phong iền qu ti, bạn sẽ m biết mấy cảnh đặt trm bắt lươn m ti vừa kể trn đy.

 

ẶT LỜ BẮT C SẶT

 

C sặt l loại c thng dụng nhứt của b con sống ở thn qu. Bắt được c sặt, ma kh th tt mương, tt đa, ma nước nổi th đặt lờ để bắt. C sặt thường sặt bướm, cn sặt rằn ở đồng chng ti rất t. - đy ti chỉ ni tới việc đặt lờ bắt c sặt bướm để ăn, để bn... Cn lm mắm th người ta tt đa mới c số lượng nhiều.

Lờ đan bằng nan tre vt mỏng v bng, đan vung cỡ ngn tay ci vừa lọt để c khng thể chui ra. Mỗi ci lờ đan chiều di chừng 1 mt, chiều ngang chừng 4 tấc (c thể kch thước lớn hơn - lờ sẽ to hơn khi cần đặt những vng đất thấp, nước dng cao). Cp chiều di lại, chồm m hai cho bn ngoi với nhau, chừa khoảng giữa lm miệng lờ. Hai đầu rp hai mặt đan loại nan vt trn, mịn b thật bng, c một ci hom cũng thật bng lộn, c c thể chui vo v lội ra được.

ặt lờ trn những luồng dọn sẵn trn đồng, bằng cch dng phảng pht cỏ trống vi mt, gom cỏ lại, đặt chiếc lờ xuống, hai hom hướng theo hai bn khoảng trống đ dọn, cỏ tấn hai bn lờ, đậy trn miệng lờ một nhm cỏ cho c bng mt bn trong lờ. Trường hợp trn đồng c nhiều giồng cỏ, người ta c thể cắt ngang giồng một khoảng bằng chiếc lờ rồi đặt lờ đưa hai mặt c hom sang hai pha ruộng. C sẽ lội qua lại chiếc lờ. Ti c dịp quan st diễn tiến c lội v ra một chiếc lờ v hnh dung được như sau:

Trn kinh Hội đồng Quỳ trong vng Kinh Mới - Trường Long, trưa đ ti nằm trn chiếc sạp tre cao, trn sạp c mui ghe che để hai anh em chng ti đi đặt lờ v giăng lưới về nghỉ ngơi (như một ci chi nhỏ), bn dưới nước su c bng mt, ti thử đặt một chiếc lờ sau khi dọn luồng trống thật im vắng. ứng bng, đầu tin ti thấy c một con c sặt đang lội tới mặt lờ. N vờn qua vờn lại, cụng đầu v mặt lờ v lần riết tới lỗ c hom, con c thong thả bơi vo. N v được bn trong lờ, bỗng tung tăng đa giỡn một mnh trong chiếc lờ bng lộn. Một lt n bơi trở ra ngoi. t pht sau, năm su con c cng đến lần lượt chui vo lờ. Rồi lại c mấy con chui ra đi rủ nhiều con khc cng đến rồi chui vo. Cứ diễn ra như vậy, khiến ti chợt nghĩ, chiếc hom chỉ lm để giữ bắt c lc mnh đến gần gy tiếng động chớ khng phải l chiếc bẫy để giữ c trong lc bnh thường. C lội tự do v ra v chng rủ r nhau vo chỗ bng lộn, lạ lẫm như vậy để đa giỡn, khng ngờ đ l ci bẫy để tm gọn bọn chng? Người ta đi thăm lờ, nếu may mắn đng vo lc c rủ nhau vo đng th "trng", bằng ngược lại, lc chng lội ra đi tm thm bạn b... th xem như "thất". Ti nghĩ như vậy. Dĩ nhin l lần nằm theo di đ, ti lợi dụng lc lũ c rủ nhau vo đng nhứt, nhảy xuống giở lờ ln. Cc bạn c biết, ti đ bắt được đến một cn c sặt ngon lnh!

Bủa lưới để bắt c r, nhứt l c r mề cỡ 3, 4 ngn tay l một điều th vị. Dịp khc ti sẽ kể bạn nghe.

 

GIĂNG CU BẮT C THEO MA

Mỹ muốn ăn c chỉ cần vo cc chợ l đ c đủ loại để lựa mua, mặc tnh khen ch đủ điều. Lc cn ở qu nh, c được by bn ngoi chợ dưới hai hnh thức: c bn trong cc l sạp của vựa c v c bn rong ngoi chợ nhm do chnh những người từ trong qu mang đến khng thường xuyn. Ti c thi quen, nếu cần đi mua c th lội bộ dọc theo khu vực dnh cho hng ho của mọi người dn được by bn đủ loại m ngy nay trong nước dng nhm từ ngữ "tự tiu tự sản", v ở đ ti c thể tm được cc loại c mnh thch mua, v mua với một gi c thể đắt hơn hoặc rẻ hơn trong cc l sạp bn bun chuyn nghiệp - người bn chnh l người đ tự tm bắt được cc loại c đ để bn lấy tiền mua sắm những thứ cần thiết trong cuộc sống của họ.

Người dn thn qu thật th chất phc, nghĩ sao ni vậy, khng "đầu mi cht lưỡi, họ bn bun theo cch tnh cng sức của mnh đối với sản phẩm lm ra, v khi họ ni gi thế no l bn thế đ, khng thch gi cao để nghe người mua trả rẻ lại. ặc điểm thứ hai l, đa số những g họ tạo ra, v cần lo trang trải gia đnh nn thường th họ "chắt mt" đến đng thương: khng dm ăn những loại tốt, loại ngon, cố sng lọc để đem bn lấy tiền, c cần ăn th lựa thứ hư xấu, thứ giạt ra. Tri cy, rau cải, c mắm... thứ no cũng vậy, họ chọn những loại tốt, ngon mang ra chợ bn cho được kh tiền hơn. Hiểu được tm tnh như vậy nn mỗi khi mua của những người nầy, ti khng bao giờ trả gi - họ ni bao nhiu, nếu xt thấy đủ tiền th mua, khng th thi... v ti đ cảm thng được nỗi kh nhọc m họ đ tạo ra sản phẩm mang bn kiếm tiền. Chỉ ring về "c", đ nhắc nhớ trong ti bao nhiu chuyện m ti đ trải qua trong thời thơ trẻ, xin được kể ra đy như một kỷ niệm đời mnh: chuyện giăng cu bắt c.

Nơi miền qu ti ở thời thập nin năm mươi su mươi c thể bắt c quanh năm. Ma nước nổi th bắt trn đồng ruộng, ma nước rt cạn đồng th bắt c dưới sng, dưới rạch. Bắt c c nhiều cch: cu, lưới, đặt lờ, đăng lọp, đuổi bng, ko v, chận ụ, dở ch, tt mương đa v.v... Ring bi viết nầy ti chỉ ni về cu c theo ma.

Cu c c nhiều cch: cu tay bằng cần cu (kể cả cu r, cu nhấp), cu cắm (mỗi cần cu c một lưỡi), cu giăng (mỗi giềng cu 3 hoặc 4 lưỡi, khi giăng ở hai đầu giềng cu gắn vo hai cy đi bằng sậy hoặc đế, cắm xuống đất, căng thẳng dy ra), cu thả dưới sng (mỗi giềng cu di đi ba trăm mt v c đến hằng mấy trăm lưỡi). Lưỡi cu c nhiều loại (cu đc, cu gio ), nhiều cỡ (từ nhỏ đến lớn), ring cu r - cu nhấp lưỡi to được uốn dạng đặc biệt để mc con mồi thường l con thằn lằn, con nhi, khi mc vo xong, cn bứt cọng rau muống chận lại từ đầu lưỡi đến đốc cu (chỗ tm vo dy cu) để khi ko r lưỡi cu trn mặt nước, mặt cỏ khng bị vướng vật cản v mồi khng st ra. Cu r - cu nhấp thường vo lc chạng vạng tối hay lc mờ sng v chỉ bắt loại c lc vo ma nước nổi, nước bắt đầu rt cạn trn đồng, c gom xuống ao đa mương ruộng. Trường hợp r hoặc nhấp c bng thường th trn sng m người ta thấy sự xuất hiện của loi c nầy, nhưng khng cần xi loại lưỡi cu nhấp, m xi một loại khc, lưỡi cu đc hay lưỡi cu hai, ba chia, tm dy rồi cột dưới chn con vịt nhỏ để n bơi trn mặt nước, c bng thấy vịt nho đến tp sẽ vướng vo cc lưỡi cột bn dưới chn vịt. Lưỡi cu gio thường để giăng, cấm bắt c tr v lưỡi cu đc để bắt c lc. Cc loại c khc như c r, c trn, c chốt, c thc lc, c chi, c m dinh, c he v.v... th lưỡi cu loại no cũng c thể bắt được nếu chng đi mồi, chịu cắn cu.

Mồi cu c nhiều loại, nhưng c thể xếp thnh hai loại: mồi chạy (l mồi di động được) như con nhi bầu, con c sặt non, con cua nhỏ; mồi đứng yn như mồi trn (trn hổ, trn quắn, trn huyết), mồi tp, mồi cắt (c sặt chết), mồi khoai lang ngm nước một đm rồi nấu chn (dng cho cu thả trn sng v bắt cc loại c trắng ), mồi ốc (bắt c lc vo đầu ma mưa lc c mới ln đồng). Bởi c nhiều loại mồi nn ti xin ni thm chi tiết, v sao?

Cắm cu, giăng cu trn đồng, ty theo ma m sử dụng loại mồi thch hợp để c chịu ăn. Vo mỗi đầu ma mưa, c dưới sng tm cch ln đồng để tm chỗ đẻ. Những nơi đọng nước như lung, đa, cc đường lươn ngập nước, c tập trung nhiều l những nơi c thể cắm, giăng cu để bắt. Lc nầy đất ruộng bắt đầu tơi ra, những đường nứt nẻ đ liền lại, cc loại ốc như ốc bươu, ốc lc bấy lu nằm trong đất đ xuất hiện. Người ta bắt ốc lc lể ra, dng lm mồi để cắm, giăng cu bắt c lc. Khi nước đ trn đồng, c đ đẻ xong, c mẹ dẫn từng đn rng rng đi ăn khắp nơi, người ta cũng đ bắt đầu pht cỏ dọn đất để cấy (cấy gim khoảng thng 7 v cấy liền khoảng thng 10 m lịch - l cch lm ruộng mỗi năm một ma vo thời điểm thập nin năm mươi, su mươi ở qu ti), muốn bắt cc loại c th người ta sử dụng mồi nhi bầu; khi cả đồng đ cấy liền xong th dng mồi c sặt non. Lc nầy cn dng mồi cua con. Khi giăng cu bằng mồi cua, thường th người ta dọn luồng dọc theo cc giồng cỏ, mc con cua vo lưỡi thả xuống gần st mặt đất, cố lm sao cho cua cử động nhử cho c lc vo cc giồng cỏ tm mồi ăn, gặp cua chng sẽ tp v dnh cu. Mồi cắt cũng dng trong thời điểm nầy, v lc đ đ vo ma lạnh, c ăn ngầm dưới su, c thể mc mồi cắt, mồi trn. ặc biệt trn huyết th nhử bắt c tr. Trn huyết nhỏ con v rất nhớt, kh cầm để mc vo lưỡi, người ta nhai cau tươi rồi nhổ nước cau vo lon mồi, sẽ mc vo lưỡi dễ hơn. Mc mồi trn huyết, chỉ cần mc một đầu trn vo lưỡi rồi quấn vng theo lưỡi (gio ), cuối con trn mc thm lần nữa l đ c miếng mồi nhử c ngon lnh. Lưỡi cu thả nằm trn mặt đất ngầm, c tr lội tm khi gặp miếng mồi sẽ ngoạm ngay. Lưỡi cu nhỏ (để cu c lng tong), c thể tm vo sợi dy gn nhỏ, cột vo một lng sậy rồi mc trn, quăng thả trn những l ruộng đất biền (chỗ nước v ra thng thương cặp với m vườn v chỗ m c trạch thường sinh sống), sẽ bắt được rất nhiều c trạch mỗi khi nước lớn tri vo đy. Mồi tp cũng được sử dụng để mc cu vo những khi nước sắp rt cạn trn đồng, sau đ mc cu dưới mương, đa v dưới sng khi c đ theo nước xuống sinh sống nơi đy.

Cu c thiểu th đặc biệt hơn. Người ta khng sử dụng lưỡi, m nhợ cu một đầu cột v cần trc, một đầu xỏ v miếng mồi l củ bo cỡ đầu đũa ăn. Người cu chỉ cần ngồi, một tay cầm cần cu, tay kia hốt cm nm xuống mặt nước để dụ c đến ginh ăn, khi đ chỉ cần quăng, giựt lin tục, con c thiểu no ngậm mồi th bị quăng ln bờ... Giật một hồi th nghỉ tay để lượm c bỏ v rổ, xong rồi tiếp tục vi cm v quăng giựt lin tục như thế. Cu c r, ngoi mồi tp, mồi trn, người ta cn dng mồi nhền nhện, mồi co co, chu chấu để cu trn ruộng la đ trổ đng đng, trn mương rạch c c ăn mng. Cu c r thường th chỉ để tm c ăn trong ngy chớ t khi đem bn. C r bn ngoi chợ l c giăng lưới, tt đa...

Thả cu trn sng, thường vo thng chạp đến thng tư thng năm m lịch (tức trước ma mưa), c thể dng mồi tp, mồi trn hay mồi khoai lang. Cu thả c giềng rất di, nhiều lưỡi. Cch khoảng năm mươi lưỡi c cột một cục đ cỡ cườm tay để khi giềng cu được quăng xuống sng, sẽ giữ độ chm xuống mặt đất. Người ta mc mồi vo lưỡi xong, xếp ln một ci "xề" hay ci "sng" thật kho, bắt đầu bơi xuồng quăng cu sẽ khng bị rối. Thả cu trn sng vo lc nước những (gần đứng) sắp bắt đầu rng hay bắt đầu lớn. Như vậy mỗi lần quăng cu chỉ cần trn dưới hai tiếng đồng hồ v thăm cu chỉ một hai lần rồi cuốn cu. Quăng cu, người ta ngồi trn chiếc xuồng, pha sau c gắn bnh li. Người giăng cu ngồi pha trước, một tay cầm giầm điều khiển xuồng tri xui theo dng nước, một tay cầm dy cu v cầm quăng xuống sng thật nhịp nhng, đều đặn. - đầu v cuối đường dy cu, người ta c một sợi dy cột ci phao, nm xuống. Quăng hết cu, cặp xuồng v bờ ngồi nghỉ, chờ vi mươi pht sau sẽ bơi ra ci phao phăng dy thăm cu, thay mồi v gỡ c. C c dnh cu, người ta lấy ci vợt lưới hay ci bội cầm tay hớt giữ c đề phng bị c giẫy v sứt khỏi lưỡi cu. Thăm cu sẽ phăng ngược chiều với dng nước chảy, trong khi thả cu th xui theo dng nước. Quăng cu thả trn sng sẽ nhn hơn giăng hoặc cắm cu trn ruộng, v trn ruộng, c khi khng được php chống xuồng trn la m phải xăn quần lội, vai quảy ci giỏ đựng c v lon mồi, sẽ bị lạnh lẽo đến cng chn tay.

Kinh nghiệm cho thấy, c trn đồng thường tm mồi ăn vo lc chạng vạng tối v lc sắp hừng đng sng. Bởi vậy, khi giăng cu ngoi đồng, c thể năm ba xuồng rủ nhau đậu lại một chỗ ngồi ht thuốc, uống tr chờ thăm v mc mồi mới, hoặc lật np ngủ đi ba tiếng đồng hồ để lấy sức, rồi thức dậy đi thay mồi mới chờ đến đợt c đi tm ăn khi trời gần sng mới cuốn cu về. Tất cả cc loại v cch giăng, cắm cu đi hỏi sự bền bỉ, kin tr v nhất l... đừng nng tnh, bởi v "chim trời c nước" ai bắt được nấy ăn, d trn đồng, dưới sng rất nhiều c, n chẳng thm ăn cu th đnh chịu chớ khng lm sao hơn được. Hoặc cng với bạn b đi giăng cu, người th gỡ c mệt nghỉ, người th lủi thủi cứ thay mồi m chẳng thấy con c no mắc cu. Thay mồi, v khi đến giở lưỡi, chẳng thấy mồi đu, phải mc mồi khc. C thể mồi thả xuống đ bị cc loại c nhỏ đến rỉa mất, hay đ bị con đin điển, con cua đến cắn ph!. Hơn nữa, c đi c luồng, nếu thả cu trng vo luồng c đi qua n sẽ ăn nhiều, v ngược lại. Cn ni "tay st c", l điều cũng đng tin lắm - c thể tay st c l người c một kỹ thuật giăng cắm cu m chnh họ khng hiểu được th sao? D l tay st c hay khng, th nghề giăng cắm cu bắt c trn đồng ruộng m ti vừa kể, l một nghề thật lạnh lẽo, khổ nhọc, phải thức đm thức hm mới bắt được con c, nhiều th mang ra chợ bn để mua sắm những thứ cần dng khc, t th để ăn trong gia đnh khỏi phải mua. Nn, như trn ti c đề cập, khi ra chợ mua c, gặp phải những người dn từ trong thn qu ra ngồi bn, thật tnh ti chẳng bao giờ trả gi, d biết rằng khi trả, c thể họ sẽ bn, nhưng nghĩ đến cng kh nhọc của họ mới bắt được con c th ti khng đnh lng. Ti đ c thời gian sống trong hon cảnh giăng bắt c kh nhọc như vậy nn sự đồng cảm su đậm biết bao.

Ti nghĩ, muốn đnh gi đng mức gi trị của sản phẩm lm ra, khng g hơn l chnh những ai đ bỏ cng sức lm ra được sản phẩm đ. Sự định mức bn mua ngoi x hội cần c tiếng ni của giới sản xuất trực tiếp, trnh nạn trung gian o p gi cả v đi lc tạo mu thuẫn, thiệt thi cho họ. Nghe qua c vẻ chủ quan, nhưng xt cho cng đ l điều rất cng bằng v hợp l.

 

L CẦN THƠ

(Trch trong QU HƯƠNG XA MI NGT NGN,

tc giả tự xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2000)