NÓI CHUYỆN VỚI  TRỜI

 

Nguyên Nhung

 

“Trời ơi là .. . trời!”

Bà Tư bỗng nghĩ ra cách nói chuyện với Trời, từ cái hôm  bà thấy buồn ơi là buồn, nói với ai cũng chẳng giải toả được nỗi niềm nên  buột miệng  than “Trời “, thì lập tức cái ý niệm nói chuyện với Trời hiện ra như một phép màu. Rằng ở đâu đó có một Đấng mà bà có thể trút hết vào đó những niềm tâm sự, những nỗi khổ tâm mà không sợ câu chuyện bị lan đi như dịch cúm Gà, bởi cái lưỡi loài người không xương nhưng nhiều điều lắt léo.

 

Trời ở đây đối với bà Tư, một người phụ nữ thật thà và ít chữ thì đơn giản Trời có thể đại diện cho cả Chuá và Phật. Hai Đấng này không biết ai đã gặp chưa, gặp bằng cách nào thì theo nhiều câu chuyện kể rất mông lung. Miệng truyền miệng thì ngày xưa đã có nhiều người được trông thấy Trời rồi. Trời lắm lúc uy nghiêm qua hình ảnh một người đàn ông râu dài, hiền dịu, Trời xinh đẹp  qua hình ảnh một người phụ nữ mà người ta quen gọi là Đức Mẹ, bên Phật giáo thì gọi là Phật Bà Quan Âm, tuỳ theo sự biến hiện cuả Thần Thánh. Hồi phong trào vượt biển tìm tự do, Bà A. kể chuyện thấy Quan Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, hiện ra trên mũi tàu chỉ đường cho trẻ em, hôm đó mà không có Phật Bà hiện ra cứu nguy thì cả tàu  đã đi vào bụng cá. Còn bà B. thì lại thấy Đức Mẹ Maria giơ tay nâng con thuyền lên qua cơn sóng quay  mòng mòng ngoài biển khơi, và con tàu như một chiếc lá tre được vứt lên vùng biển êm, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

 

Đó là những mẩu chuyện về phép lạ và đức tin cuả con người khi đứng trước một biến cố thập phần sinh tử mà họ cảm nhận được, tuỳ theo niềm tin cuả mỗi người. Riêng bà Tư, chuyện đây chỉ là những cái chuyện không ra đâu vào đâu, xung quanh đời sống hằng ngày , nhưng trong thế giới loài người khi được chảy qua từ cái miệng này sang cái miệng khác thì ôi thôi, nó biến thể và trở nên những chuyện tào lao thiên binh “ vô tiền khoáng hậu” như phim bộ Đại Hàn vậy.

 

Chuyện đời thì dài thoòng ra nên người ta hay gọi là “chuyện dài nhân dân …tự giận”, nghiã là sau khi được xào xáo, thêm bớt gia vị mắm muối tiêu tỏi, nó biến thể từ món này sang món kia tuỳ theo người đầu bếp thích pha trộn cho khác ca’i “recepy” co’ sẵn tự ban đầu, mấy nhân vật trong truyện thường sau đó chỉ từ chết đến bị thương bởi những lời thêu dệt có ít xít ra nhiều, làm cho sân si trong bụng nổi lên đùng đùng nên  “tự giận” cũng có nghĩa là vậy . Bà Tư cũng là một nạn nhân của cái chuyện dài nhân dân tự vận này mà ra, nên khiến nhiều khi có chuyện gì cần than thở cho vơi bớt nỗi buồn bực, bà cũng khôn ra mà biết rằng có khi nó sẽ giống như chuyện những chiếc lông gà, mà có lần bà đọc được trên một tờ báo.

 

Chuyện kể như sau không biết có thiệt hay không, nhưng ngẫm nghĩ cũng là  một chuyện hay quốc tế. Nếu có một nhà thông thái nào giỏi ngôn ngữ, có thể dịch ra ngay tắp lự để loài người cả thế giới cùng đọc thì hay biết mấy.

 

Ở một xứ  kia có một bà chuyên nói chuyện hành tỏi thiên hạ, bà xào khéo lắm nên chuyện nào vô lỗ tai cuả bà, sang đến tai người khác thì nó biến thành chuyện hay quốc tế liền. Tai bà rất thính, hễ nghe xong là tự nhiên nhớ như in vào đầu, giá như thời học trò mà được trí nhớ tốt như vậy, lo gì mà không đỗ đạt nên người. Nhưng vì mặc cảm sợ có tội với Trời, ở chỗ nhiều khi vui miệng nói xong, bà cũng hơi ray rứt trong lòng. Vốn là một con chiên ngoan đạo, nên bà phải xưng ra cái nỗi băn khoăn cuả mình với vị linh mục trong xứ Đạo. Vị linh mục này sau khi giải tội , liền bảo bà phải làm việc đền tội bằng cách bắt một con gà nhổ lông làm thịt.

 

Bước ra khỏi toà giải tội, bà cười khúc khích khoái chí quá trời. Sao lại có một linh mục đầy lòng nhân từ, chẳng những đại diện Đức Chuá Trời tha tội cho bà, lại còn cho hình phạt ăn thịt gà ngon lành nữa. Thế là bà ra về khoan khoái vì được tha tội, mà lại còn lại còn được chén thịt gà ngon ơ, thật đã cái lỗ miệng.

 

Vậy là trong đám gà nuôi trong vườn, đã có một con hy sinh cho sự đền tội cuả bà. Những chiếc lông gà đã bay đi khắp nơì theo gió, chỉ còn lại một đĩa thịt gà ngồn ngộn trộn với bắp cải rau răm mà đánh chén với nồi cháo thì ôi thôi, cứ phạm tội thêm cũng không sao, mà đền tội kiểu này thì chẳng bao lâu bà sẽ thành bà Phán Cảnh.

 

Thế là bà tiếp tục nói, có những chuyện mà theo bà không phải vì ác tâm mà nói, nhưng trời sinh cái tính cuả bà nó vậy rồi. Nhà cha căng chú kiết nào bà cũng nhớ, lại xem như chuyện vui không có thì buồn. Nó cũng là những chuyện để làm quà cho người khác những khi gặp gỡ, chả lẽ không có chi để nói cho vui miệng. Ngay cả những dịp tang ma thì cái ông, cái bà nằm thẳng cằng trong áo quan chưa chắc đã được yên thân, chịu khó tìm trong những khuôn mặt âu sầu vì cảnh sinh ly tử biệt kia thế nào cũng ra chuyện.

 

Đám ma thì đã vậy, đám cưới còn vui hơn nưã, khi rượu vào  lời ra thì chuyện nổ như bắp rang. Cái ông đang đứng trên sân khấu rót những lời vàng ngọc  xuống đám đông, chính trong nhà ông lại đang tang gia bối rối hơn ai hết. Cô con gái lấy chồng, rồi bỏ chồng, rồi lại lấy chồng đã là một câu chuyện phiếm trên các bữa tiệc có đông người như cái đám cưới hôm ấy, khiến bà Tư băn khoăn tự hỏi, nhân vật đang nói chuyện người khác chắc sẽ có lúc nghe người khác nói chuyện nhà mình, để rồi lòng vòng lại “cười người hôm trước, hôm sau người cười” chắc mẻm là như thế!

 

Đấy là nói chuyện xã hội, cá nhân lẻ tẻ chưa đáng gì, chừng khi là chuyện tập thể thì chuyện đã thành to hơn nhiều. Càng đông người càng lắm chuyện, nói riêng thì mỗi người là một ốc đảo nhưng nói chung, khi các ốc đảo nằm kề nhau, các con ốc thò đầu ra khỏi đảo, khi ấy tha hồ dòm ngó, kể lể, tâm sự thì ôi thôi thật là trùng dương sóng gào không át được tâm tình lê thê. Cứ xem những buổi họp mặt thì biết,  trong khi diễn giả bề bề chữ nghiã, trên tay cầm xấp giấy rồi tràng giang đại hải trên sân khấu, đám khán thính giả cũng không kém, mới đầu thì xì xào, sau những tiếng xì xào ấy to hơn lan ra thêm thì bắt đầu  ồn ào như chợ vỡ.

 

Xí nưã thì bà quên, đang nói dở dang câu chuyện cuả cái bà nhiều chuyện đi xưng tội với ông cha xứ. Buồn cười nhất là sau lần đi xưng tội mà việc đền tội lại được chén thịt gà, xem ra cái tội nói hành nói tỏi, phịa ra mà nói cho vui cái miệng mình, xem ra chẳng vui nhà vui cưả nhà ngươi khác bao nhiêu. Bởi vậy lần sau, bà kia lại đi xưng tội, tội vẫn y chang lần trước, nhưng lần này việc đền tội nghe thì dễ ợt nhưng khó thấy bà nội. Sau khi thỏ thẻ với vị linh mục cho đỡ áy náy lương tâm, thay vì được ăn một con gà như lần trước thì lần này bà được đền tội bằng cách đi nhặt lại tất cả những cái lông gà kỳ trước bà đã vặt lông.

 

Chưa ra khỏi toà giải tội mà bà này đã bứt rứt khó chịu trong lòng, cần phải hỏi ngay lại Cha cái cách làm sao để nhặt lại những chiếc lông gà giờ này nhúm lông thì nằm trong sở Rác, còn bao nhiêu cái bay tản mát theo gió đến những phương trời xa thì có mà Trời cũng không lấy lại được. Bà quay trở lại toà giải tội, bày giải nỗi khó khăn cuả việc nhặt lại những cái lông gà. Khi nghe xong nỗi thắc mắc của bà này, cha xứ mới cười nhỏ nhẹ mà hỏi khéo rằng:

 

 "Thế liệu những chuyện bà nói xa nói gần ấy nó cũng bay đi như những chiếc lông gà, thì mong gì lấy lại được, chưa kể đến cái tác hại cuả nó nữa.”

 

Câu chuyện đến đó thì hết, chẳng biết có thật không hay lại cuả người nào đó phịa ra để răn đời, nhưng cũng tác động vào tâm hồn hời hợt cuả bà Tư liền lập tức. Nhiều triết lý nhân sinh cuộc đời hình như càng đơn giản thì lại đi vào nhân gian dễ dàng hơn là văn chương bác học. Ước chi tất cả mọi người đều nghĩ ra những chuyện có ý nghiã rồi viết ra cho bà con bình dân như bà Tư đọc, ngồi ngẫm lại chuyện mình, những cái rối rắm trong nhà mình, không khéo đi than thở với ai mà gặp những người hay tung lông gà ra tứ phiá thì mệt cầm canh, sông đang lăn tăn gợn sóng  mà hoá biển động lúc nào không hay.

 

Người ta cứ nói đàn bà lắm điều, nhiều chuyện, điều đó công nhận đúng nhưng cũng không thiếu những trự đàn ông “bới lông tìm vết” còn quá cha phụ nữ. Giới bình dân ngồi lê đôi mách nhiều hơn giới trí thức, nhưng giới trí thức khi đấu nhau thì kinh khiếp hơn người ít học, bởi vì đầu óc cao cấp thông minh bác học hơn nên khi cần “ăn miếng trả miếng” thì ngôn ngữ còn bén hơn con dao lam, nhỏ bé vậy nhưng cắt chỗ nào máu tuôn lênh láng chỗ đó.

 

Nhà nào chẳng có chuyện này chuyện kia, con người sinh ra vốn nhân vô thập toàn, không số mệnh bởi nghiệp thì cũng là thánh ý Chuá định. Thành ra  khi buồn quá bà Tư hả mồm  kêu Trời như bọng,  vô tình khi kêu như vậy thì bà mới phát hiện ra cái chân lý Nói Chuyện Với Trời là khoẻ nhất.

 

Theo lối suy nghĩ đơn giản của bà Tư, cái việc nói với Người và với Trời khác nhau nhiều lắm. Trước tiên vì Trời sinh Người có cái miệng mà lại thêm hai cái lỗ tai, nên khi miệng phun ra thì hai cái tai vểnh lên để nghe , rồi cứ như dây chuyền từ cái tai lại chạy qua cái miệng, từ cái miệng này lại đi qua cái miệng khác nhanh cấp kỳ như dịch cúm.

 

Riêng với Trời thì chưa ai định nghiã chắc chắn mặt mũi nhân dạng ra sao. Bà Tư đi nhà thờ ngắm mê mệt khuôn mặt dịu hiền cuả Đức Mẹ , trong trang phục nào cũng đẹp như hoa hậu hay tiên nữ giáng trần. Còn khi đến chuà thì có Quan Âm Bồ Tát, hình tượng rõ ràng là đàn bà nhưng người ta lại nói là không phải, vì biến hoá vô lường tuỳ theo sự tiếp nhận cuả người trần mắt thịt. Theo bà thì Chuá hay Phật không phải đàn ông hay đàn bà, không có giới tính, tính tình điềm đạm kín đáo lại im lặng không gật không lắc, nên cũng không nhiều chuyện như người trần gian.

 

Nói với Phật hay với Chuá dễ ợt, chỗ nào cũng nói được chứ đâu cần phải chờ đêm khuya thanh vắng, ngồi khoanh tay khoanh chân trầm tư mặc tưởng. Tại sao không xem các Vị như bạn hiền để thỏ thẻ muốn nói gì thì nói, lại bảo đảm sự kín đáo tuyệt đối cho người kể tin cậy trăm phần trăm. Cứ nhỏ nhẹ mà tâm sự với Trời , hay khi cần muốn la làng lên cho hả giận, hả buồn thì cũng không hề bị la rầy phản kháng như người trần mắt thịt. Khi buồn giận thổ lộ tâm sự cũng không sao, khi nào nguôi đổi buồn ra vui thì Trời cũng chỉ mỉm cười không hề thay đổi sắc mặt.

 

Chỉ vậy thôi! Từ ngày tìm được cách nói chuyện với Trời thì bà Tư thấy lòng yên tịnh, an bình hẳn ra, tính nết vì vậy cũng dễ chịu hẳn ra, ít cố chấp như hồi hay nói chuyện với người và hay nghe người nói. Cái kiếp người trời cho sống lâu thì bao gồm dĩ vãng, hiện tại, tương lai, con người hay đánh giá việc tốt xấu cuả nhau với định kiến có sẵn, rồi nhất định rằng hễ đã xấu rồi thì không thể tốt được. Có người rất lạ, họ hay kể ra một cái chuyện xấu cuả ai đó, và làm như khi người khác xấu đi thì cái tốt cuả họ nổi bật lên, và vì thế mà gây thù chuốc oán cũng vì cái tật muốn nâng mình lên bằng cách hạ người xuống.

 

 Từ khi nói chuyện với Trời, cảm nhận được cái im lặng cảm thông, sò mó ra cái thế giới siêu hình câm nín mà lại tác động lên tất cả đời sống con người, bà Tư đã không còn thấy mình hẹp hòi, ích kỷ nữa. Ông X. bà Y nào đó trước kia là một người xấu bị mọi người xa lánh, đó là chuyện quá khứ, biết đâu với thời gian đã biến đổi để bây giờ họ không còn xấu  nữa, mà lại còn đang hoán chuyển để thành con người tốt. Cách chọn bạn mà chơi cuả bà Tư bây giờ cũng có thay đổi, bà nghiệm ra rằng hễ mình đến với những người hiền hoà, vui tươi cởi mở, lòng mình cũng vì thế mà an vui, bao dung, độ lượng, còn hễ gặp người toàn hành tỏi người khác, lúc nào cũng than thở rên rỉ mà không chịu quên đi những cái phiền não trong đời sống, lâu ngày bà cũng bị lậm theo cái tính khó chịu ấy, đời không vui lên được.

 

Cuộc sống có bao giờ cho đầu óc con người được thong thả nghỉ ngơi, nên khi nói chuyện với Trời cũng là cách “ relax” cho cái đầu đỡ phải nghĩ ngợi. Đành rằng cũng phải nghĩ nhưng cái xấu giảm thiểu đi mà nâng cái tốt lên, gọi là nói chuyện cho Trời nghe nhưng thực ra khi ấy là tiếng nói cuả lương tâm, mình lại nói chuyện với mình đó.

 

Nguyên Nhung