NGƯỜI THẦY

KHAI TÂM

 

TRUYỆN

LÊ CẦN THƠ

 

Có lẽ mỗi con người từ khi cha mẹ sinh ra, được chăm nom nuôi nấng cho đến khi trưởng thành bước vào đời, ai cũng có dịp đến trường để học chữ. Người thầy đầu tiên dạy dỗ chúng ta, theo như ba tôi nói mà măi sau nầy lúc nào tôi cũng nhớ nằm ḷng: ông thầy khai tâm! Khai tâm, từ điển ghi rất đơn giản “Vỡ ḷng, mở mang tâm trí". Vậy người thầy đầu tiên dạy vỡ ḷng, mở mang tâm trí chính là người đă có công "khai sáng tâm trí" chúng ta, từ một trẻ sơ sinh lọt ḷng mẹ với tiếng khóc tu oa chào đời, rồi biết lật, biết ḅ, biết ngồi, biết đứng, biết đi, biết chạy..., biết nói bập bẹ những tiếng ngây ngô đến lúc nói được tṛn câu, tṛn chữ... là nhờ công cha mẹ, những người thân trong gia đ́nh. Nhưng để có được khả năng tiến hoá theo sự phát triển con người, cần phải được bồi dưỡng tâm trí, mà bước đầu tiên là học chữ, tức học văn hoá, phải nhờ đến thầy. Dù thời gian trôi qua quá lâu mang theo tuổi đời già cỗi, nhưng tôi vẫn nhớ như in cái ngày đầu tiên tôi được ôm cặp đến trường và đă được ông thầy “khai tâm” cho ḿnh - đó là thầy Chín Hưng ở làng quê tôi, và đó là những năm đầu thập niên năm mươi, cả dân tộc ta c̣n trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Quê tôi, làng Trường Long nằm sâu trong vùng "Việt Minh kiểm soát" thời đó, v́ phải chạy tản cư quanh năm nên đa số trẻ em chúng tôi không được đi học đầy đủ. Măi đến năm 1952, trong cuộc hành quân gồm lính Pháp - Việt, rồi nằm lại đóng đồn Ông Hào, Vàm Bi, xem như làng tôi thuộc quyền kiểm soát của chánh phủ quốc gia. Dân chúng tản cư lần lượt trở về làng sinh sống bên thửa ruộng mảnh vườn, th́ thầy Chín Hưng mới cất một lớp học trên một khu đất trống xéo vàm Rau Muôi, vốn là nghĩa trang chôn nhiều người trong thời chiến tranh. V́ tuổi thơ tôi không hiểu được người chết là những ai, nhưng mỗi sáng trước khi vào lớp học, thầy Chín Hưng cho chúng tôi đứng xếp hàng ngay ngắn rồi bảo chúng tôi "cúi đầu mặc niệm nhớ ơn người đă khuất"! trước khi vào lớp. Là thầy giáo dạy tư, nhưng thầy rất thương và lo lắng cho tất cả chúng tôi, theo dơi sức học từng tṛ để chỉ dạy tận t́nh. Trong lớp thầy có tất cả bốn mươi tám học tṛ, mà đủ cả các tŕnh độ, từ lớp Năm đến lớp Ba, lớp Nh́ và lớp Nhứt do thầy giáo Năng dạy (thời đó mới bắt đầu học là lớp Năm, lớp Nhứt là lớp cuối cùng của bậc tiểu học để thi vào Đệ Thất (tức lớp 6 sau nầy) bậc trung học. Dù có nhiều tŕnh độ như vậy, nhưng thầy dạy rất trầm tĩnh, cẩn thận, chăm chút từng học sinh một. Thầy chú tâm không sót một tṛ nào mới vào, để thầy uốn nắn, chỉ dạy tại chỗ cách nh́n mặt chữ, cách đọc chữ, ghép vần. Dạy chữ nào là nhớ ngay, nhớ măi chữ đó, cùng lúc với "tập đồ” các chữ đă học. Thầy viết chữ rất đẹp trên từng trang tập đồ (trên giấy trắng chớ không phải tập đồ có in sẵn sau nầy), nét to tṛn, đều đặn, chúng tôi cầm viết ch́ đồ theo. Ban đầu tay run, nét nguệch ngoạc, Thầy ngồi cạnh bên cầm tay tập cho chúng tôi kéo từng nét cho ngay ngắn, thẳng thớm, rồi quen tay. Tôi nhớ, mỗi ngày học hai buổi sáng và chiều, trưa nào, chiều nào trước khi về thầy đều gom tập đồ lại đem về nhà để thầy viết sẵn, đầu giờ học trả lại cho chúng tôi ngồi viết tại lớp. Thầy sửa thế ngồi của từng tṛ, thẳng lưng, không cúi thấp, ngực không đụng vào thành bàn, tay phải cầm viết, tay trái tỳ lên quyển vở... Khi chúng tôi viết chữ được thẳng nét th́ thầy không cho đồ nữa, mà thầy chỉ viết một hàng chữ đầu rồi để chúng tôi nh́n và viết theo. Lúc nầy thầy không cho chúng tôi dùng viết ch́, mà phải dùng viết chấm mực ng̣i lá tre. Thời đó có hai loại ng̣i viết "lá tre" và "lá vông" gắn vào cái cán bằng cây, nhưng thầy Chín Hưng bảo chúng tôi phải tập viết bằng ng̣i lá tre cho chữ đẹp. Ng̣i viết giống h́nh lá tre, từ đầu mũi viết trở vào đến lỗ nhỏ giữa ng̣i có một kẽ hở nhỏ, nếu viết đè mạnh tay th́ nét mực sẽ đậm ra. Viết bằng ng̣i lá tre, nét sẽ mềm mại và có thể điều khiển cho chữ có nét đậm nét lợt rất đẹp. Sau nầy, tất cả các bạn lớp học do thầy Chín Hưng “khai tâm” đều có nét chữ gần giống như chữ của thầy, chân phương, đứng đắn, tṛn đều và đẹp.

Thầy Chín Hưng c̣n có "hoa tay", dù không phải họa sĩ nhưng thầy vẽ tranh sơn thủy rất đẹp. Thầy có sáng kiến tŕnh bày mẫu giấy khen cho học tṛ sau mỗi khoá học, phần thưởng là bức tranh do chính thầy vẽ phong cảnh thật sống động.

Tôi đi học là một dịp rất t́nh cờ. Hôm đó, nhóm chúng tôi gồm năm đứa: Bảy Cù, Sáu Già, Năm Vinh, Tư A và tôi tuổi xấp xỉ nhau, cứ tụ tập chơi tṛ chia phe "đánh trận giả”, vũ khí là ống thụt làm bằng ống trúc hoặc ống tầm vông bắn bằng trái bố. Mỗi phe đốn cây chuối làm cây súng trung liên... dĩ nhiên "nổ" bằng miệng. Hai bên dàn trận xong th́ mặt trời lên gần đỉnh đầu, là giờ học tṛ của trường thầy Chín Hưng tan học buổi sáng. Thay v́ chúng tôi "đánh nhau”, không dè cả hai phía đều nhắm vào mấy đứa học tṛ tung tăng trên đường từ lớp học về, thụt lia lịa, “bốp, chát, bốp chát”, “Pằng Pằng, Pằng Pằng”... rồi hô “xung phong”... Từ trong các bụi cỏ, đám bố ngang vàm Ông Hào nhào ra, ḿnh đứa nào cũng giắt lá cây "ngụy trang" như lính, chận đường khiến mấy đứa học tṛ đứng lại xơ lơ xáo láo một chút. Bỗng anh Hai Phát lớn nhứt trong nhóm học tṛ dơng dạc nói: "Ê, lớn rồi mà không chịu đi học, cứ chơi mấy tṛ vô ích, sau nầy dốt nát uổng thân!". Anh ấy rủ mấy bạn học tṛ nói những câu trêu chọc bọn chúng tôi một lúc mới hí hửng bỏ đi...

Về nhà tắm rửa, ngẫm nghĩ câu nói của anh Hai Phát có phần đúng, tối lại tôi mới xin với ba tôi cho tôi được đi học. Nghe tôi đ̣i đi học, ban đầu ba tôi trố mắt nh́n ngạc nhiên, một lúc sau ba hỏi:

- Con muốn đi học thật phải không?

- Dạ! Ba cho con đi học. Tụi nó chọc quê, mắc cỡ quá!

- Đi học phải cố gắng và đàng hoàng, đừng bỏ học nghe.

- Dạ!

Thế là sáng hôm sau, ba tôi thức sớm, gọi tôi dậy và bảo tôi xuống sông tắm rửa sạch sẽ, thay đồ mới, chải đầu suông sẻ rồi dẫn tôi đi đến trường. Không hiểu ba tôi đă mua đâu sẵn tập và viết với túi đựng bằng vải (có lẽ má tôi đă may sẵn từ lâu), bảo tôi cầm tay và đi theo. Tôi không tả lại tâm trạng ngày đầu đi học như ông nhà văn Thanh Tịnh đă tả, nhưng phải nói, tôi đi học chỉ v́ không muốn để cho tụi bạn cùng lứa tuổi chê bai, chế giễu.

Bởi đi quá sớm, khi tới trường th́ chưa có học tṛ. Ba tôi phải dẫn ngược trở lại nhà thầy Chín Hưng. Vào nhà lúc thầy đang ngồi uống trà. Thầy Chín mời ba tôi cùng uống trà. Tôi th́ đứng lấp ló ngoài hàng ba, nghe lỏm bỏm chuyện bên trong bàn uống trà.

- Anh cứ để cháu nó ở đây, một chút tôi dẫn nó qua lớp học. Có việc anh cứ về trước. Đừng lo ngại ǵ hết. Tôi cố gắng dạy dỗ cháu...

- Cám ơn Cậu Chín. Nó đi học bây giờ cũng trễ tràng lắm, nhưng v́ hoàn cảnh chiến tranh, tôi không thể cho cháu đi học sớm được. Nay mọi việc cũng nhờ cậu.

- Được rồi. Trông mặt nó cũng "sáng lắm", chắc học mau chớ không tối dạ đâu!

Ba tôi ra về. Trước khi đi, ba dặn “con phải nghe lời Thầy, đừng để thầy quở trách”. Tôi “dạ” mà ḷng không hề nao núng, v́ trên đường đi, tôi tự hứa với ḷng là "phải học cho giỏi, nhất định không để ai chê ḿnh nữa". Thầy Chín kêu tôi bước vào trong nhà, vỗ vào đầu tôi mấy cái rồi bảo:

- Con ở đây, một chút đi với thầy qua lớp. Con cầm mấy cục phấn với cây thước và ôm chồng tập nầy dùm thầy. Mỗi ngày trước khi vô lớp, con ghé đây gặp thầy để lấy thước, phấn và ôm tập nghe!

Thầy Chín xếp cho tôi ngồi ở đầu bàn thứ nhứt, gần sát với tấm bảng đen. Cũng từ vị trí nầy mà tôi tận mắt chứng kiến cảnh Thầy Chín bị té ngất xỉu trong một buổi dạy học, và thầy đă mang bệnh phải nghỉ dạy cả tháng trời!

Số là trường học báo giờ vô ra chỉ sử dụng bằng tu huưt thổi "hoét hoét". Ông Ba Khá, thợ bịt trống da trâu trong xă, cách trường phía bên kia sông khoảng mấy trăm mét, có ư định tặng cho trường một cái trống. Thầy Chín mừng lắm, cho qua chở trống đem về treo ở ngoài hiên trước cửa lớp. Trống đánh ba tiếng là vào lớp, hai tiếng là ra chơi, ba tiếng và một hồi dài là tan học. Chưa đầy một tháng, tôi nhớ hôm đó thầy đang viết bài trên bảng th́ chợt quay lại chỉ phía góc bảng: "Ḱa, ḱa, cục ǵ đỏ ḷm vậy?". Chúng tôi trố mắt nh́n chẳng thấy cục ǵ đỏ cả. “Đâu có thầy". "Ḱa, ḱa... đó đó.... cục đỏ đó, ḱa kià, lớn quá, bằng cái thúng ḱa ḱa...". Vừa nói, thầy vừa bước theo hướng mà thầy chỉ có cục đỏ, với dáng điệu khác thường, bỗng nhiên thầy té sấp trông dễ sợ lắm. Chúng tôi hoảng hốt "la làng" inh ỏi. Vừa la vừa chạy túa ra sân. Thầy Ba Năng dạy lớp kế bên nghe kêu la cũng chạy qua, đỡ thầy đứng dậy nhưng thầy Ba Năng nhỏ người, yếu ớt không đỡ nổi với vóc dáng to lớn của thầy Chín Hưng. Lúc đó, mấy nhà đối diện trường phía bên sông đă lội qua, chạy lên vực được thầy và vội khiêng thầy về nhà đặt trên bộ ván ngựa. Chúng tôi được cho về nghỉ... và nghỉ suốt thời gian thầy bị bệnh.

Nghe người lớn kể lại rằng, thầy Chín Hưng bị "âm binh" quở v́ đă mang trống về đánh động tại khu vực có mả mồ và nhiều vong linh người chết. Gia đ́nh có rước thầy làm đám đến đặt bàn hương án ngoài sân trên một cái ghế đẩu với một tấm thớt có cắm một cây dao yếm sắc lẻm, vái một con heo đứng cho thầy mau hết bệnh và hứa sẽ dời cái trống đi chỗ khác, không đánh tại khu nghĩa trang nữa!. Thầy Chín như người mất hồn, miệng nói láp dáp, tay quấn điếu thuốc bằng cườm tay, đưa vào miệng ngậm trông thật thảm thương. Gia đ́nh cũng rước thầy Ba Đồng đến bắt mạch hốt thuốc bắc cho thầy uống... Mấy hôm sau bệnh thuyên giảm, tâm thần tỉnh táo trở lại b́nh thường, nhưng thầy vẫn tiếp tục uống thuốc bắc cả tháng mới lành bệnh và đi dạy lại như trước. Vô lớp thầy nói là tự nhiên vừa đang viết bài trên bảng, thầy hoa mắt, quay nh́n bên cạnh thấy mộtcục màu đỏ như mặt trời, ban đầu cỡ quả trứng gà, lớn dần, lớn dần như một cái thúng..., thầy cố bước lại gần giơ tay chụp th́ bị té nhào bất tỉnh! Chuyện xảy ra trước mắt tôi thế, nhưng từ đó và măi đến bây giờ tôi cũng không thể lư giải nổi đó là hiện tượng ǵ. Có điều, tiếng trống trường tại lớp học của ông thầy khai tâm cho tôi, chưa đầy một tháng đă phải dời đi, và măi măi ngôi trường nầy không ai dám xài trống cả, bởi v́ trường đang cất trên phần đất có rất nhiều mả mồ, đặc biệt có gần hai mươi ngôi mộ chôn ngay hàng thẳng lối, được dân địa phương gọi là nghĩa trang tử sỉ thời chống Pháp!

Học hết lớp Ba cũng là năm đ́nh chiến. Trường nghỉ dạy một thời gian. Gia đ́nh tôi sa sút trong sinh kế, ba má tôi đưa tôi sang Sa Đéc để ở trọ nhà người cậu xin vào học tại trường Nam tiểu học hết mấy năm mới quay trở lại quê hương học trường tiểu học Phong Điền. Rồi tôi thi đậu vào lớp Đệ Thất trường Phan Thanh Giản. Sau Tết Mậu thân 1968 tôi đến tuổi tổng động viên vào lính, rày đây mai đó, không có dịp trở lại làng quê trong những năm chiến tranh ngập tràn khói lửa, nhất là từ năm 1965 sau lần nhà thờ ông Hào bị bom ném sập, dân chúng tản cư ra thành thị để tránh chết chóc. Trong thời gian theo bậc trung học, tôi có mở lớp rồi cộng tác với bạn bè dạy tư để kiếm tiền trang trải chi phí học hành. Thắm thía t́nh nghĩa thầy tṛ, nhiều lúc tôi ngồi nhớ lại những ngày mới bước chân vào lớp học "khai tâm", tôi thương Thầy Chín Hưng vô hạn. Thầy đă tạo cho tôi một ấn tượng cao đẹp trong thiên chức một người thầy - mà lại là người thầy đầu tiên khai tâm cho tuổi thơ trước rừng chữ nghĩa - nên một hôm tôi ngồi buồn nh́n đám học tṛ xếp hàng vào lớp sau tiếng chuông reo vang, bất chợt tôi nảy ra ư và sau đó viết bài thơ để tặng thầy, trong lúc không biết thầy đă tản cư tới một chỗ nào đó để bảo toàn mạng sống. Khi vào lính, gặp người quen, tôi có hỏi thăm, họ nói, dường như thầy sống trên một chiếc ghe và trổi nổi xuống miệt Thứ (?). Bài thơ tôi viết, in báo xuất bản ở Sài G̣n rồi in vào thi tuyển Về Nguồn nhưng chắc ǵ thầy đọc được, nên tôi đă gởi lên ban Thi Văn Mây Tần của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà. Nghệ sĩ Đoàn Yên Linh và Kim Phượng đă diễn ngâm bài thơ nầy, với lời giới thiệu của Kiên Giang, đọc cả lời đề tặng của tôi, hy vọng ở một phương trời nào đó, qua làn sóng phát thanh thầy Chín Hưng nghe được bài thơ nầy. Bài thơ tôi viết kể từ sau khi giă từ lớp của thầy 13 năm, và đến nay đă tṛn 32 năm, thầy có dịp nghe hay đọc được không ? Thầy c̣n sống trên cơi đời nầy, hay đă đi về miền vĩnh cửu, hỡi người thầy khai tâm của con ? Một lần nữa, con xin đăng lại bài thơ để nhớ về thầy kính yêu của con trong cơi đời nầy.

 

TIẾNG TRỐNG TIẾNG CHUÔNG

* Kính tặng thầy Chín Hưng -

người thầy đă khai tâm cho tôi.

 

Tiếng chuông báo hết giờ - tan học

Lũ trẻ reo vui đứng xếp hàng

Thầy giáo vào trường mơ tuổi ngọc

Niềm thương ngày cũ dậy mênh mang...

 

Buổi trước vàng son quyện mái trường

Ngây thơ nào biết mộng yêu đương

Mỗi ngày hai lượt nghe khuyên bảo

"Lễ nghĩa"... thầy sơn đậm nét hường!

 

Tấm bảng màu đen dài một thước

Ghép bằng năm mảnh ván mù u

"Nhỏ"... nhưng chất chứa ngàn tinh túy

Khôn lớn rồi ai sẽ đáp bù?

 

Mười hai chiếc kệ chân ngàm đất

Khắp mặt loang đầy vết mực xanh

Bốn mươi tám mái đầu thơ dại

Ngồi viết từng câu "học phải hành"...

 

Trường lớp che bên mồ tử sĩ

Một gian hai chái hẹp, đơn sơ

Sớm mai thầy bảo ra truy niệm

Để nhớ anh linh gục dưới cờ...

 

Tiếng trống từng hồi ba nhịp chẵn

Báo giờ vô học - báo giờ ra...

Âm vang thánh thót từng giai điệu

Êm đẹp nào hơn tuổi học tṛ...

 

Đất nước chừng thu vào lớp nhỏ

Say sưa thầy kể chuyện quê hương

Nào sông - nào núi - nào oai dũng

Kiêu hănh làm sao giống Lạc Hồng!

 

Từ năm thôn xóm vương binh biến

Lớp học c̣n đâu giọng nhỏ to

Im vắng - nền xưa loang cỏ dại

Nổi lên từng đợt những hoang mồ.

 

Thầy giáo trường tư giờ thất lạc

Học tṛ ngày cũ lớn không thêm

Kẻ lo tranh sống, người trôi giạt

Biết có t́nh thương dậy nỗi niềm?

 

Mười mấy năm trời - bao biến đổi

Trống trường thay bởi tiếng chuông vang

Con mang lớp áo thầy ngày trước

Nuối tiếc niềm thương đă ngút ngàn.

 

Tháng 9 năm 1967

LÊ CẦN THƠ

(Trích: QUÊ HƯƠNG XA MĂI NGÚT NGÀN –

tác giả tự xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ)