Trần Bang Thạch

 

CHUYỆN MỘT NGƯỜI LÍNH

 

Thật sự th́ chuyện của tôi không có ǵ đáng phải kể hết. Chuyện của một anh chàng trung niên không vợ con t́nh nguyện vào lính, rồi ra chiến trường hơn một năm nay, chưa có một thành tích cá nhân nào tạm gọi là xuất sắc, chưa bị thương lần nào, cũng chưa một lần bị bắt rồi được giải cứu như người nữ chiến hữu tên Lynch hiện đang nổi danh như cồn. Một cách vắn tắt, tôi là hạ sĩ Dian Clark, thuộc sư đoàn 4 bộ binh đang dừng quân tại Tikrit miền Bắc nước Irak. Trong số 130 ngàn lính Mỹ đang đồn trú tại Irak hiện nay th́ tôi chỉ là một hạt cát dưới ḷng sông Tigris mà thôi.

Nhưng nếu bạn muốn th́ tôi xin kể bạn nghe tí chút về một bức ảnh. Kể cho vui vậy thôi chớ không một ngụ ư ǵ hết.

Hôm qua tôi nhận được thư của mẹ tôi, có kèm thêm một bức ảnh. Nói thêm bạn nghe: Mẹ con tôi rất ít khi xài email, mà chỉ thích đọc những hàng chữ viết tay, thấy chữ viết như thấy người, cho đỡ nhớ. Ngoài những chuyện thương nhớ, những kể lể này nọ, mẹ tôi nói bức ảnh đă làm bà khóc suốt đêm. Mẹ nói bức ảnh này mẹ đă cắt từ tờ báo địa phương, và có thể các báo khác ở nhiều nơi trên toàn nước Mỹ cũng có đăng. Tôi ngạc nhiên hết sức khi nh́n bức ảnh này. Đó là tôi trong bộ đồ bộ binh tác chiến rằn ri màu cát. Trong ảnh, tôi với mũi súng trút xuống đất, dây ba chạc mang đầy những túi đạn và con dao găm cận chiến. Có cả dây mang hàng chục trái lựu đạn vắt ngang một bên vai. Người nhiếp ảnh chiến trường nào đó quả là có tài khi nhằm ngay lúc tôi gập lưng xuống và ngay lúc cái nón sắt của tôi chệch qua một bên mà bấm máy để gương mặt của tôi hiện rơ trước ống kính. Điều tai quái của bức ảnh là phía sau cái cơ thể cong quặp của tôi là hậu cảnh trái ngược. Đó là hằng chục đứa trẻ đứng thẳng lưng và thẳng tay ném những ḥn đá vào cái mục tiêu rất gần trước mặt của chúng là tôi. Là tôi: cái bị thịt trong vai tṛ người chiến binh trong quân lực Mỹ. Là tôi có súng trong thời chiến mà phải trút mũi xuống đất, ngón tay không dám bóp c̣ và lưỡi lê th́ nằm yên trong bao. Là tôi với tấm thân 6 feet 4, cân nặng gần 200 pounds, cố thu người cho nhỏ lại với vũ khí dùng để chống đở duy nhất lúc ấy là cái nón sắt khi th́ đội nghiêng qua bên này, lúc bên kia để tránh những ḥn đá bay tới như mưa rào. Thật sự th́ trong ảnh người ta chỉ có thể thấy được vài ḥn đá bay về phía tôi, chớ nhiếp ảnh gia không ghi được hàng trăm ḥn đá khác đă rơi khắp thân tôi, từ chân tới đầu. Ảnh cũng không chụp được ngay cái giây phút tôi ngạc nhiên tột độ với cái mồm tôi đang há hốc, đôi mắt tôi đang mở lớn như cái khu chén khi bên tai tôi có nhiều tiếng la và bất thần nghe vai ḿnh thật đau với một viên đá vừa ném trúng đích. Ảnh cũng không ghi được mấy giọt máu chảy từ vết thương nơi bàn tay trái không mang găng tay của tôi. Như vậy cũng tốt. Nếu mẹ tôi thấy được hết những chi tiết này th́ chắc bà phải khóc cả tháng. Càng tốt hơn nếu mẹ tôi không nh́n thấy bức ảnh ấy để khỏi đau ḷng.

Tội nghiệp mẹ tôi, tuổi đời đă quá sáu mươi mà những nghiệt oan của lịch sử chưa chịu buông tha bà. Có vẻ như tôi sắp kể lể chuyện của mẹ tôi rồi đây. Nhưng kể chuyện mẹ mà thiếu chút chuyện của ba th́ chắc là nhạt nhẻo lắm. Vậy th́ xin bạn cứ kiên nhẩn mà nghe nhé.

Có phải là điều nghịch thường không khi một người đàn bà sống trong một đất nước giàu mạnh, tự do, không chiến tranh mà phải cơng trên vai ḿnh hai cuộc chiến xăy ra thật xa bên ngoài đất nước của bà và trùm phủ trên con người của bà biết bao là hệ quả đau thương của nó. Có dịp nào mời bạn ghé qua nhà mẹ con tôi. Từ downtown Houston, bạn đi về hướng Tây nam, sau gần ba giờ lái xe bạn sẽ đến nhà chúng tôi trong vùng thị trấn Victoria. Mẹ tôi đang ở đó, một ḿnh từ khi tôi vào lính. Căn nhà nhỏ 3 pḥng ngủ nằm trên một vuông đất cao trồng toàn thông xanh. Cửa chánh không hướng về phía xa lộ với ḍng xe cộ tấp nập ở dưới, mà hướng về phía mấy dăy núi thấp ẩn hiện ở thật xa cuối chân trời. Mẹ tôi thích ngôi nhà này lắm. Bà nói bước ra cửa bà như thấy được cái đất nước tận bên kia bờ Thái B́nh Dương, nơi chồng bà đă chiến đấu và đă hy sinh. Rồi giờ đây cũng hướng về dăy núi xa xăm ấy bà nghĩ tới đất nước tận vùng Trung Đông mà con trai bà đang có mặt. Mẹ tôi đó, người phụ nữ thuần chũng Native American, thuộc bộ tộc da đỏ Apache, tuổi trẻ đă sống trong một cuộc chiến tranh không giáp mặt, đă gởi hết tâm t́nh của người vợ trẻ theo chân người chồng lính chiến ở vùng đất đỏ Dĩ An mà bà chưa hề đặt chân đến. Không có mặt bên chồng, không có mặt trong cuộc chiến nhưng mẹ tôi như hàng ngày gần gũi với những trận đánh ở G̣ Dầu Thượng, G̣ Dầu Hạ, Dakto, Daksut, ở Núi Bà Đen, Mỏ Vẹt, chiến khu Dương Minh Châu,...Bà như thấy những đổ nát của chiến tranh, thấy những bất hạnh của đàn bà, trẻ con trong lửa đỏ, trong bom đạn ... nhờ những lá thư của ba tôi, khi th́ viết vội nơi tháp canh, khi th́ nơi một b́a rừng cao su, khi th́ vừa mới xong một trận đánh; và nhờ những h́nh ảnh ba tôi cắt từ các báo. Không phải tất cả thư từ, h́nh ảnh ba tôi gởi về đều là mang bóng dáng chiến tranh. Ba tôi cũng thường gởi về những h́nh ảnh trẻ thơ trong bộ áo quần rách rưới mà gương mặt thật dễ thương, đôi mắt th́ tṛn như hạt nhăn. Có bức ảnh ba tôi đang bồng đứa bé trai hai, ba tuổi, đầu to, bụng ỏng, chân nhỏ như que cây, ba nói khi về nước ba sẽ xin đứa bé về làm con nuôi. Có một bức ảnh chụp tuy rất nghệ thuật nhưng đầy bi đát: một đứa trẻ chừng năm sáu tuổi, gầy đét như cây tre đang đong đưa trên chiếc cầu khỉ, hai bên cầu là hai ngụm lửa đỏ, đứa bé không biết chạy về đâu giữa hai lằn đạn. Mẹ tôi nói bà thích nhất là khi bà nhận những câu ca dao, tục ngữ mà ba tôi học được từ những người bạn đồng minh. Mỗi câu gởi về ba tôi đều cắt nghĩa rơ ràng. Có câu ca dao khiến mẹ tôi rơi nước mắt mỗi lần đọc lại sau khi ba tôi mất: Gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu đời đắng cay. Mấy mươi năm sau, đọc lại câu ấy, mẹ tôi vẫn khóc và khóc nhiều hơn. Tất cả những h́nh ảnh, thư từ ba tôi gởi về suốt sáu năm có mặt trong cuộc chiến Việt Nam, mẹ tôi đều giữ đủ. Bà có hàng mấy trăm bức thư, toàn là thư t́nh hai người gởi cho nhau. Ảnh th́ có cả ngàn bức ảnh đủ thư,ù đa số là ảnh từ các báo: ảnh mặt trận đang bốc khói, ảnh di tản thương bệnh binh, ảnh tù binh mặt mày non choẹt như con nít, ảnh ba tôi đội đá vá đường, ảnh các bạn ba tôi dạy các trẻ con học tiếng Anh; đặc biệt có những tấm ảnh ba tôi chụp chung với các người lính Việt Nam mang những cái tên thật ngộ: Binh nh́ Dương dê ṣm, Thượng sĩ Thái dúi, Thiếu úy Đậu mùa, Đại úy Ba cà nông; c̣n cả trăm câu ca dao, tục ngữ Việt Nam th́ mẹ tôi viết lại với nét chữ khổ to, thường là mỗi trang giấy chỉ có hai câu. Bà dùng nguyên một gian pḥng để làm pḥng trưng bày những thứ ấy. Chúng tôi gọi gian pḥng đó là Một Góc Việt Nam, a Việt Nam Corner. Tất cả được dán trên những khuôn giấy cứng trên ba phía vách tường. C̣n vách tường đối diện cửa pḥng là tấm ảnh lớn chụp ba tôi đang làm nhiệm vụ của một công binh chiến đấu trên trục lộ gần quận Dĩ An Biên Ḥa: ḿnh trần trùn trụt, lấm tấm mồ hôi, đang khuân từng ky đá trải trên mặt đường. Phía trên ảnh ba tôi một bên là lá cờ vàng ba sọc đỏ thật lớn, bên kia là tấm bản đồ Việt Nam cũng thật lớn. Trong pḥng cũng có một số sách vở chữ Anh viết về Việt Nam và những sách tiếng Việt viết về sử kư, địa lư. Mẹ tôi đă t́m hiểu về Việt Nam từ khi ba tôi vừa đặt chân tới bến tàu Cam Ranh lần đầu tiên.

Cả cái đất nước h́nh chữ S tên gọi Việt Nam bà chưa kịp t́m hiểu hết th́ đă phải đón nhận thi thể của chồng trong chiếc quan tài phủ lá cờ Tổ Quốc. Lúc đó tôi vừa mới lên hai. Đứa bé tên Dian được ba mẹ đặt tên để nhớ vùng đất Dĩ An ba tôi đă từng có mặt chưa biết ǵ là nỗi khổ mất cha. Sau này lớn lên tôi mới thấy hết ư nghĩa của gian pḥng kế pḥng ngủ của tôi. Ba tôi ra đi để lại cho mẹ tôi quá nhiều kỷ niệm, bà sống trong gian pḥng đó như sống với một kỷ niệm đau thương. Sau này mẹ con tôi có vài dịp ghé thăm đất nước đă một thời ba tôi sống, chiến đấu và đă ra đi vĩnh viễn. Sau những chuyến đi ấy căn pḥng có thêm những h́nh ảnh mới: Người thương binh với hai ống chưn cụt tới háng, mấy em bé trai, gái năm sáu tuổi quần cụt, ḿnh trần ngồi trên đống rác cao như núi, bà mẹ mù c̣ng lưng gần sát đất tay nương gậy trúc tay ch́a ra cái lon xin tiền. Có cái băng cassette mẹ tôi ghi âm tiếng đàn bầu và mấy câu hát của một người hành khất mặc cái áo trận rách tả tơi khi mẹ con tôi chờ qua bắc Cần Thơ, người hát th́ như ai oán khóc than, điệu hát th́ mang âm điệu của một bài kinh khổ. Mẹ tôi không hiểu ǵ hết ư nghĩa của bài hát nhưng bà thường nghe vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Bạn muốn nghe chuyện của một người lính ư? Th́ đó, tôi vừa mới kể cho bạn nghe đó. Lại c̣n bonus cho bạn chuyện của một người lính khác là mẹ tôi. Không phải sao ? Mẹ tôi cũng là một người lính vậy chớ bộ giỡn sao bạn. Mẹ tôi thời trẻ tuổi đă sống đời sống người lính của ba tôi, bây giờ sống đời sống người lính của đứa con duy nhứt của bà. Mẹ tôi khóc khi đưa tôi xuống bến tàu. Rồi nước mắt bà cứ chăy theo bất kỳ người lính nào trên chiến trường xa khi chiếc trực thăng bị bắn rớt, khi chiếc xe tuần tiểu bị gài bom, hay khi nhóm lính bị tàn quân bắn sẻ. Nói thật bạn nghe, trong quân ngủ người lính có những buồn vui đời quân ngủ, chết th́ chết, chơi th́ cứ chơi; c̣n người vợ, người mẹ ở hậu phương th́ chỉ có buồn và lo và thương nhớ. Khi người lính bị thương th́ bà đau gấp mười, gấp trăm lần. Khi người ta mang xác chồng con về th́ bà như đă là cái thân đang chết, cái tim th́ tan nát mà cái hồn th́ lảng đăng lang thang nơi hạt nội mây ngàn theo dáng người vừa mới ra đi. Mẹ tôi đó, người đàn bà chỉ có mấy tháng bên chồng sau ngày hợp hôn để suốt đời sống với những tháng ngày chinh chiến xa xôi của chồng và sống với cái Việt Nam Corner ngay trong nhà. Cũng do cái Việt Nam Corner đó mà bà để tôi ra trận như một tiếp nối những ǵ ba tôi chưa hoàn thành. H́nh ảnh những em bé đói khát, bịnh tật, lem luốt, da vàng, bụng ơng càng ngày càng nhiều nơi cái Việt Nam Corner của mẹ tôi th́ việc ra đi của tôi thêm nhiều ư nghĩa. Cái Việt Nam Corner đó sau mấy mươi năm gần gủi đă dạy cho tôi bài học về ḷng người. Trẻ con bất cứ ở đâu th́ cũng phải được thương yêu. Tôi đă cầm súng và tôi đă cầm tay từng em bé học viết chữ ABC. Tôi dạy các em học, dạy các em hát bất cứ ở đâu, nơi góc phố đổ nát hay dưới chân tượng đài đă ngă sập. Người lính quân y của chúng tôi cho các em những viên thuốc bổ, chửa cho các em những ghẻ lở, thương tích. Chúng tôi cứu chửa cả những người đang cầm súng bắn sẻ chúng tôi. Chúng tôi chiến đấu mà không một chút hận thù.

Mấy mươi năm trước ba tôi đă quên những giây phút riêng tư của ḿnh với người vợ mới cưới để đến một đất nước xa xôi vừa chiến đấu, vừa vá đường, vừa thương những đứa trẻ tội nghiệp như con. Th́ nay, chuyện của tôi cũng vẫn là chuyện của t́nh thương và chiến đấu. Nh́n chúng tôi bị cả những em bé mà chúng tôi vừa mới cho kẹo ném những viên đá vào đầu xem ra thật là nghịch lư. Càng nghịch lư nếu cứ vô t́nh để tâm hồn của các em bé như thế suốt đời bị màn u minh của một giáo điều che kín.

Tôi hy vọng mẹ tôi sẽ đọc được những ḍng này để bức ảnh ấy không làm buồn ḷng bà. Và để khi tôi có dịp về nhà tôi sẽ nh́n thấy bức ảnh được dán chung với hàng trăm những bức ảnh khác trong cái Việt Nam Corner của mẹ con chúng tôi. Chừng đó chúng tôi có thêm những kỷ niệm để sống.

Houston, Mùa Tạ Ơn 2003