Trần Bang Thạch

Tượng và Thơ

và Tinh Thần Nữu Ước

 

Bạn thân,

Trước hết mời bạn đọc nguyên văn bài thơ nầy:

Not like the brazen giant of Greek fame,

With conquering limbs astride from land to land;

Here at our sea-washed, sunset gates shall stand

A mighty woman with a torch, whose flame

Is the imprisoned lightning, and her name

Mother of Exiles. From her beacon-hand

Glows world-wide welcome; her mild eyes command

The air-bridged harbor that twin cities frame.

"Keep ancient lands, your storied pomp!" cries she

With silent lips. " Give me your tired, your poor,

Your huddled masses yearning to breathe free,

The wretched refuse of your teeming shore.

Send these, the homeless, tempest-tost to me,

I lift my lamp beside the golden door!"

Sẽ là vô lễ biết bao đối với bạn và đối với chính tác giả nếu tôi không ghi lại nguyên văn một bài thơ được coi là tuyệt tác, v́ nó đă nói đầy đủ ư nghĩa của pho tượng và thể hiện thật rơ tinh thần Hiệp Chủng Quốc, nên từ năm 1903 bài thơ đă được tạc trên một tấm đá đặt dưới chân tượng Nữ Thần Tự Do trên đảo Bedloe’s Island, sau được đổi thành Liberty Island, ở New York . Tôi đă chép bài thơ này khi đứng dưới chân tượng đài. Bài thơ có tựa là " The New Colossus" do nữ thi sĩ Emma Lazarus (1849-1887), một New Yorker chính cống, viết năm 1883 để biểu tỏ niềm tin của ḿnh vào một nước Hoa Kỳ tượng trưng cho thiên đường của những người bị áp chế. Bản thân của nhà thơ Lazarus cũng là một biểu tượng của t́nh người. Bà là người giàu tâm và giàu của, đă cống hiến những năm cuối đời ḿnh và hầu hết tài sản của ḿnh cho việc cứu trợ những người di dân Do Thái giáo nhập cư nước Mỹ. Họ đă từng bị đối xử tàn tệ tại nước Nga.

Đọc những câu thơ của người xưa, rồi ngước mắt nh́n pho tượng đồng, tôi thấy ḿnh có được một gặp gỡ vô cùng hiếm quí với hai biểu tượng của tính nhân bản cao ṿi vọi.

Trước hết là bài thơ. Kẻ hậu thế nầy hiểu thế nào th́ xin được ghi ra như vậy, chớ không dám làm công việc dịch thơ:

Chẳng phải là tượng đồng của danh tướng Hy Lạp xưa, kẻ chỉ biết tung vó câu mà gồm thu đất đai thiên hạ. Người đứng đó giữa trời mây sóng cả, giương thật cao ngọn đuốc soi đường. Mẹ là Mẹ hiền của người lử thứ, của kẻ tha hương, Mẹ chong mắt, Mẹ vẫy tay mời gọi. Hăy tụ về đây làm nên phố đông, bến mới. Nhớ đừng quên quốc tổ ngọn nguồn. Hăy bỏ những nhọc nhằn, nghèo đói, những dâu bể, tang thương. Để được thở như chưa từng được thở. Người đă bị đuổi xua nơi những băi bờ đâu đó, hay đang trong băo táp mịt mùng. Cứ theo ánh đuốc nầy mà ghé Bến Chung. Cửa đă mở và ánh vàng đă lóe.

Ḿnh đă có lần mang khát vọng Tự Do lên thuyền nang vượt sóng. Biển cả th́ trùng trùng mà bến đậu th́ mù tăm. Hôm nay nghe ư tứ của thơ, chữ nghĩa của thơ sao thấy gần gũi quá, như có ḿnh trong đó, và có trong đó hàng triệu triệu những di dân từ muôn phương đổ về vùng đất ghé tạm của đoàn hải hành Kha Luân Bố hồi năm 1492. Ghé tạm để h́nh thành một đất nước của Tự Do, tiếp tục xây dựng một bến bờ của kẻ đi t́m Tự Do từ khắp xứ.

C̣n khối tượng đồng nặng gần nửa triệu cân, cao hơn 300 thước, người ta có thể theo 168 nấc thang bên trong tượng mà leo đến tận cái vương miện hay theo cánh tay mà leo tới ngọn đuốc; để từ đó nh́n khắp thành phố Nữu Ước. Nh́n từ xa, pho tượng như đứng trên triều sóng, trên đầu là những dăy mây xanh, khiến ta thấy pho tượng vừa uy nghi gần gũi, vừa lung linh thoát trần. Tượng thật đẹp và thật vĩ đại. Nhưng tính chất vĩ đại có lẽ ẩn tàng nơi ánh mắt của người mẹ hiền hướng về đại dương cùng với cánh tay mặt cầm ngọn đuốc chỉ đường cho những người đang lênh đênh trên biển cả, ngọn đuốc sáng rực ban đêm với 19 ngọn đèn tổng cộng 1300 watts. Cánh tay trái th́ cầm phiến đá khắc ngày ra đời của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, July 4, 1776, ngày sinh của một quốc gia, cũng là bước nhảy xa của một nhà vô địch hoàn cầu. Dưới chân tượng là sợi xích sắt bị bẻ găy, tượng trưng cho sự cáo chung củạ bạo tàn. Ân cần mời gọi, soi lối chỉ đường, cưu mang, chia xẻ, dân chủ, tự do.. . đă thể hiện hết trên The Statue of Liberty, một quà tặng của nước Pháp cho nhân dân Hoa Kỳ nhân ngày lễ Độc Lập July 4, 1884; sau đó được dựng thành tượng đài ngày 28 tháng 10, năm 1886. Hơn trăm năm nay Tượng Đài đứng đó giữa bốn bề sóng nước phải chăng cũng đă góp phần ǵn giữ tinh thần Mỹ quốc xứng đáng với tên gọi, một quốc gia lúc nào cũng thể hiện dân chủ, tự do và biết tôn trọng công bằng, bác ái.

Cảm ơn Thơ với Tượng đồng, những sáng tạo của nghệ thuật đă nâng ư nghĩa của hai chữ Tự Do cao tới mây và sáng như sao trời.

Quư biết bao phút gặp gỡ của tôi với cái Ư của Thơ và cái Hồn của Tượng.

Bạn thân,

Không nhắc chắc bạn cũng nhớ c̣n vài hôm nữa là tới ngày 11 tháng 9. Chắc bạn cũng không quên hai năm trước vào ngày này lương tâm nhân loại đă bị rúng động với sự sụp đỗ của 2 ṭa nhà chọc trời ở Nữu Ước. Gần 3000 người chết thảm, chết trong hoảng hốt cực độ. Có người chết mà điện thoại c̣n trên tay, có người c̣n cầm tách cà phê chưa uống cạn. Bao nhiêu cái chết không toàn thây. Quĩ vương đă hiện h́nh ngay trước mắt loài người, ngay trước mắt Tượng Thần Tự Do, trước mắt những câu thơ chứa chan t́nh nhân loại. Ghé lại Ground Zero để thấy đá sơi và bốn phía rào, thấy một băi hoang mà 2 năm trước đây là nơi tọa lạc của hai ṭa cao ốc song sinh tượng trưng cho nền kinh tế đứng đầu thế giới. Người ta treo trên hàng rào tấm bảng ghi danh những nạn nhân. Có quá nhiều cái tên, tôi không đọc hết được, nhưng có một câu chữ viết tay nguệch ngoạc trên khung ván của bảng danh sách nạn nhân mà tôi đă phải đọc đi đọc lại nhiều lần, đọc mỗi lần là mỗi thấy tim ḿnh nhói đau. Chị bạn đi chung chỉ đọc một lần mà đă thấy nghẹn thở. Ai đó đă viết như thế nầy: "You have gone, but my heart has been dying". Người đi, người đă đi rồi, ḷng tôi chết điếng theo người, người ơi. Không biết hôm đó có bao nhiêu những người đang yêu nhau phải giữa đường găy gánh, khiến người t́nh c̣n ở lại phải thốt lên lời thống thiết, đề chúng tôi nghe hôm nay giữa vuông đất đă chôn vùi xương thịt của mấy ngàn xác thân và mấy ngàn vong linh uỗng tử.

Bạn thân,

Tôi đă mời bạn cùng tôi đi phà sang Liberty Island để thấy biểu tượng của Nữu Ước. Đă mời bạn ghé mạn Nam của Manhattan đến đứng ngoài ṿng rào của Ground Zero suy nghĩ một chút về tội ác để tôi có cớ mời bạn nh́n Tinh Thần Nữu Ước. Phải, hai ṭa cao ốc sụp đổ nhưng Tinh Thần Nữu Ước không phải v́ vậy mà không c̣n. Từ hàng trăm năm nay, với đôi tay rộng mở, Nữu Ước đă là đất lành cho hàng triệu triệu lưu dân tứ xứ. Họ đến một nơi biết trọng tự do và nhân cách của con người. Họ đến để lập thân và lập nghiệp và lập chí. Từ những khổ nhục, những đàn áp, những mất mát, những đớn đau …... tại quê nhà, họ đă tạo nên Thành phố Nữu Ước giàu mạnh. Từ những ước mơ nhỏ bé của những người chỉ muốn làm Người, họ đă tạo nên Tinh Thần Nữu Ước: ḥa đồng để thương yêu nhau, nắm chặt tay nhau để cùng tiến tới, tôn trọng và b́nh đẳng. Tinh thần nầy, thưa bạn, tôi đă thấy được, mọi người đă thấy được suốt 29 tiếng đồng hồ Nữu Ước bị mất điện từ xế chiều ngày 14 tháng 8. Gần ba mươi năm, Nữu Ước mới bị mất điện lần này, và là lần dài nhất trong lịch sử Nữu Ước. Chen chân giữa ḷng phố lạ với hàng trăm ngàn người, thoạt đầu tôi thấy ḿnh kém may. Tự dưng từ một thành phố cực nam làm một chuyến du hành cực bắc để xui xẻo đi vào đêm đen của một thành phố ánh sáng được mệnh danh là Thành phố Không Ngũ (Sleepless City), là Hạt Ngoc về đêm! Nhưng thưa bạn, người xưa nói trong cái rủi có cái may. Đúng lắm. Không có cái rủi đó làm sao tôi được sống cái ngàn năm một thuở hôm ấy hở bạn! Nhất là làm sao tôi thấy được cái Tinh Thần Nữu Ước.

Thành phố Nữu Ước với trên 20 triệu dân, cộng với hàng trăm ngàn du khách mỗi ngày, có một hệ thống xe điện ngầm lớn nhất thế giới. Mất điện vào giờ tan sở nên người ta phải cần hơn 3 tiếng đồng hồ để đưa 350 ngàn người ra khỏi các toa xe dài ngoằn và các trạm xe điện, chui lên mặt đất, nhập vào với hàng triệu người ra đường từ các công, tư sở. Xe cộ bị tắc nghẽn . Chỉ có các xe của nhân viên công lực luồn lách trên đường phố. Những người đang ở trong các chung cư tránh cái nóng nên cũng túa ra đường. Rừng người. Cả thế giới đă thấy rừng người đó trên TV. Thưa bạn, trong rừng người đó có tôi. Có tôi người khách lạtrên khu phố Brooklyn, lần đầu tiên đến thăm Nữu Ước. Tôi đă đi bộ hơn 4 tiếng đồng hồ, vượt hơn 8 dặm đường, leo 9 từng lầu, ḍ từng bước một như đi trong hầm tối để lên căn pḥng tạm trú qua đêm. Chúng tôi đă đi như vậy trên các khu phố lạ hoắc không một ánh điện. Khu chung cư cũng tối đen. Những vệt đèn xe cảnh sát hay xe cứu thương chỉ đủ cho người ta nh́n thấy mặt nhau trong thoáng chốc. Sợ là sẽ có những kẻ lợi dụng bóng đêm để cướp bóc, giựt dọc, vv.. . Không, không có ǵ hết. Không một tiếng nổ. Chỉ có tiếng trực thăng nghe rơ trên bầu trời đêm.Thành phố Nữu Ước b́nh yên. Người Nữu Ước, có lẽ đă học thêm được bài học 11 tháng 9 từ 2 năm trước, rất b́nh tĩnh và rất trật tự, không sợ hải. Họ t́nh nguyện giúp nhân viên công lực hướng dẩn xe cộ lưu thông, hướng dẩn người đi bộ, họ hỏi han, chăm sóc đủ điều. Tôi thấy có những em thiếu niên để người già lên yên xe đạp rồi dẩn đi. Có những cửa hàng cho không những chai nước uống.. ..Chúng tôi đi bộ tuy có xa nhưng không thấy mệt, có lẽ nhờ tinh thần lạc quan, thái độ thân thiện, giúp đỡ của người Nữu Ước.

Sau đêm đen Nữu Ước đó trở về nhà, trong đầu tôi lúc nào cũng chập chờn câu hỏi của một em bé không quen: Are you OK? I can help. Đêm đó tôi đă lắc đầu nhưng bây giờ th́ tôi thấy quả t́nh em bé đă nối dài thêm cánh tay của Tượng, đă ghép thêm lời cho Thơ và đă kết thêm một bông hoa vào cành hoa hồng Nữu Ước. Cũng từ hôm đó, tôi thường nghe lại tiếng hát của Frank Sinatra: New York, New York. I want to be part of it. I wanna wake up in a city that doesn’t sleep.. ….

Khi cái ác vẫn c̣n ŕnh rập quanh đây th́ làm sao mà Nữu Ước ngũ được. Và Tượng, và Thơ cũng sẽ thức hoài với Tinh Thần Nữu Ước.

Thượng tuần tháng 9/2003