NẮNG CHIỀU

 

truyện ngắn

PHẠM PHI LONG

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

"Trong mỗi chúng ta đều có một người nhà quê. Cái nghề làm ruộng mà cuộc đời bình dị của người làm ruộng đã ăn sâu vào tâm trí chúng ta. Nhưng chúng ta ngày một xa lìa nề nếp cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh... Những tư tưởng ta hấp thụ được ở học đường réo gọi ta. Những cái phức tạp của cuộc đời mới lôi cuốn ta, đến nỗi có lúc ta tưởng người nhà quê trong ta đã chết rồi..." (Lời ông Hoài Thanh viết về thơ chan chứa tình quê hương của thi sĩ Nguyễn Bính).

Thật vậy. Với những ham muốn được sống nơi chân trời xa lạ ám ảnh mãi trong tâm hồn Hoan, một chàng trai quê mùa mộc mạc nhưng ôm ấp nhiều khát vọng, tưởng cuộc đời giản dị như giấc mơ. Nó thôi thúc, lôi cuốn người nhà quê mà gót chân còn dính màu vàng của nước phèn đồng ruộng đó rời xa nếp sống êm đềm, tẻ nhạt, ấp ủ sau lũy tre già quê hương.

Rồi sau bao tháng năm dài sống dưới ánh sáng của thị thành, Hoan đã biết được gì? Chàng đã học được gì? Không rõ, chỉ rõ một điều là chàng lại muốn sống đời rong ruổi đó đây. Thế là chàng lại đi. Ði tìm chân trời mới. Chàng dần xa quê hương đằm thắm, nơi có những thửa vườn nho nhỏ thơm ngát mùi hoa chanh, hoa bưởi khi sương mai còn giăng mờ hàng cau hay lúc chiều tà có người nông dân đứng trên đê ngắm đàn cò trắng bay về tổ hay nhìn mặt trời vàng ối lặn dần ở cõi mù xa.

Trên chiếc xe đò đi Cao Nguyên, bóng đêm mờ nhạt, tiếng máy nổ hòa với tiếng xe lướt gió ào ào, mọi người trong xe lim dim tìm giấc ngủ, bên cạnh Hoan là người đàn bà tuổi độ ba mươi, dáng nhanh nhẹn. Chị đẹp. Nét đẹp dày dạn của người lao động chân tay. Hoan nghĩ bâng quơ về chị, về cái tranh đấu vật vã không ngừng trong cuộc sống của con người rồi chàng lại nghĩ về chính mình. Một người nhà quê như chàng sao không mơ giấc mơ có cánh đồng lúa vàng rạng rỡ, có khoảng trời xanh bao la và đàn trâu nhởn nhơ trên đồng cỏ hay giấc mơ có nàng thôn nữ đi chợ về buông quang gánh đứng dưới bóng tre phe phẩy chiếc nón lá tìm chút gió mát giữa trưa hè oi ả mà mơ cuộc sống rộn ràng, cảnh đời xa lạ, khó biết được ngày mai!

Hơn hai tiếng đồng hồ sau khi rời vùng ba biên giới, chỉ còn một khoảng đường ngắn nữa là xe vào thành phốn Ban Mê Thuột, hai bên đường có hàng đèn nê-ông được gắn chồm ra trông như hai cánh tay dài khẳng khiu từ hai bên cố vói nắm lấy nhau. Mỗi bóng đèn tỏa một vùng ánh sáng nhạt nhòa trong màn sương, trông quá đìu hiu!

Mùa chỉ mới vào thu, nhưng Ban Mê Thuột lạnh. Xuống xe, Hoan theo gót vài hành khách đi vào quán, chàng gọi một ly cà phê đen. Ðêm qua ít ngủ, ngoài trời lạnh, chàng ngồi nhìn ly cà phê bốc khói thơm phức, Hoan hớp một ngụm thì quả thật là cà phê ngon khiến Hoan nhớ có lần chàng đọc sách của ông Cửu Long Giang có đoạn nói: "...Cà phê Ban Mê Thuột là giống rất ngon, được các vị Linh Mục lấy từ đảo Java thuộc Indonesia sang từ đầu thế kỷ 19...”.

Vài tiếng đồng hồ sau Hoan lại lên đường. Chiếc xe đưa Hoan và hơn hai mươi người về Pleiku là loại xe cỡ trung, thùng xe cũ kỹ, thô kệch, khách ngồi đâu mặt nhìn nhau vì hai hàng băng được đặt dọc theo thân xe. Nhìn lớp bụi đường đất đỏ bám đầy thân, đầu, đít xe, bám cả trên tóc, trên vai người tài xế, người lơ xe và cả hành khách khiến ta không tránh được ý nghĩ người và vật đều lắm nét phong trần!

Khoảng đường Ban Mê Thuột - Pleiku dài 290 cây số. Rừng không cây cao bóng cả rậm rạp như khoảng Ban Mê Thuột trở về Sài Gòn mà có nhiều đồi trọc thoai thoải, rải rác có những bụi tre xòe ngọn tròn xoe như có bàn tay người cắt xén trông rất đẹp mắt. Lúc nầy xe chạy thật chậm, nó đang lên một ngọn đồi không cao nhưng rộng. Xa xa, trên con đường mòn, có hai người Thượng đang đi. Ði trước là người trai có dáng khỏe mạnh, ngực nở, bụng thon, tóc xõa dài trên hai bờ vai rộng, đuôi khố thòng xuống khỏi mông, vai phải mang cung, vai trái mang ống đầy tên, lưng giắt cây dao ngắn xem ra thật uy nghi. Sơn nữ đi sau chàng trai là một cô gái đẹp. Tóc cô loà xòa trên đôi vai tròn lẵn, mặt trái xoan đều đặn, mắt sáng long lanh, cô mang một cái gùi lớn. Gần tới bên đường, hai người chậm bước nhìn đám người Kinh. Cô gái nhoẻn miệng cười để thấy thiếu mất 3 chiếc răng cửa. Trông cũng hay hay. Hoan ngồi ở cuối xe dán mắt trông theo cô gái cùng chàng trai sơn cước đi trên đỉnh đồi in hình lên nền trời cao xanh thẳm, chàng thầm nghĩ: Ðẹp như một bức tranh!

Dáng dấp oai hùng của chàng trai sơn cước khiến Hoan liên tưởng tới một câu chuyện lý thú kể lại đoạn đời của một người Pháp đầy lòng gan dạ với máu giang hồ của ông Toan Ánh viết về Cao Nguyên:

"... Mayrena là một tay đẹp trai, khỏe mạnh, thông minh, cương quyết, bắn nỏ rất hay, đánh kiếm rất giỏi, nhưng phải tánh rất lưu manh, bán trời không văn tự. Năm 1888 hắn sang Ðông Dương cốt để tìm vàng ở Attapeu bên Lào... Hắn lên Dakto trổ tài đánh kiếm, bắn cung với người Thượng và không ai thắng được hắn. Người Thượng Sedang phục tài Mayrena bèn tôn ông lên ngôi vua... Hắn tự xưng là Vua Mayrena Ðệ Nhất xứ Sedang. Năm 1945, Viện Bảo Tàng Khải Ðịnh có bảo trợ một cuộc triển lãm ngai vàng và kiệu sơn son của Vua Mayrena. Hiện nay (năm 1969), những kỷ vật nầy vẫn còn được cất giữ ở Kontum... Một lần về thăm Âu Châu, Mayrena điều đình nhường vương quốc Sedang cho một nhóm người Ðức, lường gạt bán phẩm tước, huy chương, bán cả công điền ở Kontum... Năm 1889, khi Mayrena trên đường từ Pháp trở lại Ðông Dương, ông được tin Toàn Quyền Ðông Dương đang truy nã ông, ông bèn lên tránh trên một hòn đảo tên Paulo Tioman. Và cuối cùng ông chết ở đó..."

Hoan yêu câu chuyện phiêu lưu kỳ thú, yêu tánh giang hồ lang bạt của Meyrena, và thương cả cái chết của ông như thương con sư tử già chết trong cô đơn giữa nơi rừng lạ.

Hoan lan man nghĩ ngợi mông lung. Xe qua khỏi núi Hàm Rồng khoảng hai mươi phút thì sắp vào thành phố Pleiku, xe đổ xuống dốc sâu rồi qua cây cầu bắc ngang một dòng suối nhỏ để lên đường Hoàng Diệu, con đường chính của thành phố có "Phố núi cao, phố núi đầy sương...”. Bước chân xuống miền đất lạ, Hoan nghe lòng bâng khuâng nghĩ về cuộc sống mới đương chờ trước mặt. chàng nhủ thầm: Ðừng băn khoăn trước trở ngại nào, mình không làm việc ở bàn giấy thì làm phu quét lá vàng. Hề chi!

Ðêm nay, vừa ra khỏi lớp học Anh Ngữ do ông Evans, nhà truyền giáo Tin Lành dạy, Thái nói:

- Ê Hoan, mai đừng đi vào buôn Thượng nghe. Ở nhà đi coi đua ngựa hai đuôi chơi. Tối lại đi ciné ngoài trời nữa.

Hoan trố mắt hỏi:

- Ngựa gì ngựa hai đuôi? Tụi bây thấy tao khờ nên thấy rồng bảo rắn, thây chó bảo mèo chắc?

Cả ba đứa cười ròn rã. Tánh giải thích:

- Mầy dốt quá. Ngựa hai đuôi là người Thượng cởi ngựa. Thượng quấn khố để đuôi khố dài nên khi ngựa chạy mau thì đuôi người, đuôi ngựa cùng bay thẳng về phía sau thành ngựa hai đuôi. Hiểu chưa? Khờ!

Thái cười vui nói tiếp:

- Tối đi ciné ngoài trời, ta sẽ giới thiệu đào mới của ta cho mi biết.

- Ðẹp lắm không?

- Rất đẹp. Rất duyên dáng. Là Á Hậu Thượng năm ngoái đó!

- Quen lâu chưa?

- Chưa. Mới vòng nhì thôi.

Hoan cười:

- Ðược. Ði ngay. Miễn bàn.

Hnú là cô gái Thượng duyên dáng mặn mà. Cô hay rụt rè e thẹn. Tóc ngắn ngang vai, da ngăm ngăm màu bánh mật, mắt sáng long lanh, chuôi mắt dài đa tình và hình như lúc nào cũng đượm nét u sầu. Ðôi môi Hnú dày ướt mọng. Cổ đeo kiềng đồng vừa vặn nhưng đôi khoen tai thật to. Nàng mặc áo vòng tay sát nách và chiếc váy đen ôm lấy thân hình khỏe mạnh trông thật dễ thương. Sau khi được giới thiệu, Hnú và Hoan trở thành đôi bạn thân rất mau. Ngồi dưới gốc thông, xa mọi người, hai người không còn quan tâm đến các bạn cũng không cần biết ciné chiếu những gì trên màn ảnh.

Tánh, Khanh và Thái kéo tới. Thái cười nói lớn:

- A! Thằng nầy láo. Nó cướp đào tao rồi.

Cả bốn đứa cùng cười vui rộn rã, Hnú bẽn lẽn cười theo.

Sau đêm ấy, vào những chiều trời trong gió mát, Hnú và Hoan thường qua khu đồi vắng tới ngồi bên dòng suối rót cho nhau mật ngọt tình yêu, hay tay trong tay dạo trên đường phố vắng.

Hnú là cô giáo dạy tiếng Việt cho trẻ con Thượng. Trường của nàng chỉ có một lớp học mà cô là cô giáo duy nhất của trường. Ngôi trường một lớp nhỏ bé đứng chơ vơ trên đồi trọc với lẻ loi vài bóng cây. Ðứng xa nhìn ngôi trường thấy quá điều hiu, nhất là vào buổi chiều khi mặt trời vàng úa chìm xuống sau đồi.

Hnú rụt rè, nhưng trong tình yêu thì nàng thật nồng nàn say đắm. Ðêm nay, sau giây phút chìm sâu trong đắm đuối nàng cứ nằm bất động như vẫn còn say với dư hương của ái ân. Hoan đứng lên tới bàn rót nửa ly nước, hớp đầy một ngụm, chàng quay bước trở lại giường. Dưới ánh sáng huyền ảo của ngọn đèn đêm, Hnú nằm duỗi đôi chân thon dài, mặt hơi nghiêng để mái tóc xõa bồng bềnh trên chăn nệm, Hoan đứng lặng rồi gọi thầm: Hnú, em đẹp lắm, em là nàng tiên của rừng xanh!

Qua những ngày tháng bên nhau, tình người sơn nữ luôn quyến rũ, luôn đắm say, quằn quại trong vòng tay yêu đương, nhưng chưa bao giờ nàng nói đến tương lai. Ðôi khi bất chợt Hoan bắt gặp đôi mắt buồn của nàng lặng lẽ nhìn chàng. Hnú im lặng quá. Chàng tự hỏi có phải đó là tình yêu chân chính của trái tim hay là nàng trót mang tâm hồn lãng mạn nên khi yêu thì thật thà say đắm dù biết rằng rồi cuộc tình sẽ không đưa nàng đến bến bờ nào cả mà nó sẽ là một kỷ niệm buồn trong cuộc đời tình ái của nàng thôi? Nhưng Hoan, chàng thương Hnú, cô gái liêu trai của rừng thiêng đã cho chàng những giây phút phiêu bồng của thể xác, nàng mang đến cho chàng cuộc tình không có cái phù phiếm bằng lời. Nhưng, cũng như chàng, nàng yêu chỉ để mà yêu thôi vì đời chàng vẫn là một cánh chim vô định ở cuối trời.

Tánh nhìn Hoan hỏi:

- Làm gì mà ngẩn ngơ vậy? Bộ thương sơn nữ thiệt hả?

Hoan mỉm cười không nói.

Khanh đùa:

- Vậy tụi mình mua khố cho đóng là vừa rồi!

Cả bốn đứa cùng cười vui ròn rã.

Một buổi sáng Hoan theo xe vào Buôn Thượng. Xe rời thành phố Pleiku không bao lâu thì rẽ vào một con đường quanh co độc đạo vòng chân núi Chu Prong. Tuy xe chạy chậm nhưng mỗi đoạn đường xe lướt qua đều để lại vầng bụi đỏ mịt mù, cành lá hai bên đường trĩu nặng vì bụi bám đầy thân, nhưng khi xe chạy sâu vào rừng thì bụi đường không còn bốc lên được nữa vì lá vàng rơi phủ cả mặt đường.

Xe vào tới Buôn lúc mặt trời vừa đứng bóng. Ông Tư tài xế hết trách nhiệm. Ông vắt chiếc khăn lên vai đi thẳng tới ngôi nhà sàn của người chủ làng rồi tự tay cầm gáo múc nước từ cái chum ra rửa mặt, xong ông lên nhà ngồi nói chuyện với người chủ làng. Hai người ngồi trên hai cái đôn gỗ to bằng vòng tay ôm. Trên sàn có một bếp lửa đấp bằng đất thô sơ, khói lên nghi ngút. Nằm khoanh bếp lửa là một ông già gầy ốm xanh xao, hai giếng mắt ông lõm sâu trông như vòng mắt không tròng. Má hóp, xương nhô cao trông như sọ người chết từ lâu, đít chỉ còn có xương trên đôi chân dài khẳng khiu. Hoan ngồi trên bục gỗ nhỏ lơ đãng nhìn quanh rồi lại ngó ông già nằm co bên bếp un đương âm ỉ làn khói xám mà thương cho cuộc sống khắt khe của người Thựơng, những kẻ bị lãng quên. Nghĩ ngợi bâng quơ một lát rồi Hoan nẩy ra ý so sánh kỳ cục: "Sự tồn tại của họ hầu như chỉ ngang giá với sự tồn tại của cỏ cây, những loài mọc trong rừng sâu!"

Kiện, người lơ xe gọi vọng lên từ dưới nhà sàn:

- Hoan ơi, xuống đi tắm giọt.

Hoan đáp mau:

- Tôi xuống ngay.

Hai người đi dọc theo theo đường mòn, chỉ mấy phút sau là tới bờ suối, chỗ nầy bung lớn ra giống như cái hồ nhỏ. Kiện không chần chừ mà lội ngay xuống suối, Hoan xuống theo. Sau mấy tiếng đồng hồ lắm bụi đường bây giờ được ngâm mình trong dòng nước mát, Hoan nghe thật thoải mái. Kiện nói lớn:

- Coi kìa Hoan. Ðẹp quá!

Ngó theo hướng mắt Kiện, phía trên nguồn, Hoan nói thầm: Ðẹp thiệt; hai cô gái Thượng khỏa thân đang ngồi gội đầu dưới hai máng nước giọt. Ánh nắng buổi xế trưa chiếu qua giọt nước chảy xuống từ máng tre long lanh như những giọt thủy tinh. Hai sơn nữ ngồi duyên dáng, chân phải co lên để đầu gồi ngang cằm, chân trái xếp xuôi trên mặt tảng đá, gót khép kín vào trong. Cả hai cùng nghiêng đầu về bên phải để hai mái tóc đen tuyền chảy xuôi theo giọt nước phủ cả bàn chân, tay phải cầm miếng tre thay cho lược và cứ theo cử động bàn tay trái đưa sang vuốt mái tóc thì tay phải cầm miếng tre chải theo sau. Cả hai sơn nữ tuổi độ mười lăm, thân hình đầy đặn dưới làn da ngăm ngăm sạm nắng căn tràn sức sống. Hoan còn đứng nhìn trong lúc Kiện ngụp lặn đùa với nước tới gần hai sơn nữ, cả hai nàng cùng nhìn Kiện mỉm cười rồi từ từ trườn mình xuống hồ đứng chỗ nước sâu ngang ngực và sóng nước nhấp nhô đùa giỡn trên đôi vú thiếu nữ của rừng xanh.

Tắm gội xong, Hoan nghe thật thoải mái. Cao hứng, chàng bật quẹt đốt thuốc hút. Rít một hơi dài, Hoan khoan khoái tưởng như khói thuốc chưa bao giờ thơm và ngọt như hôm nay. Rừng chiều im vắng, Hoan ngồi trên tảng đá nhìn dòng nước chảy xuôi mang theo những chiếc lá vàng rồi tự nhiên lòng thấy bâng khuâng, có một chút gì xót xa cho những chiếc lá đương xa rừng.

Từ tuần qua, sau khi đọc hết tập thơ của Huy Cận ở nhà Khanh, chàng nghe lòng nhớ nhung, thiếu vắng một điều gì. Phải chăng:

"Ðường trong làng, hoa dại với mùi rơm"

"Ðất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng"

Phải rồi. Bây giờ mùa sắp sang Xuân, đất có thêu nắng, đường có hoa dại, mùi rơm. Quê hương chàng ít hoa phượng nhưng hè thì có bông vông đồng đỏ rực chói chang, có cây ô-môi trụi lá chỉ còn màu tím của hoa. Xuân về có bông so đũa trắng tươi màu sữa và hoa cau thơm ngát trong vườn. Hai câu thơ đó gợi lại lòng Hoan bao nhiêu hình bóng cũ. Chàng đã gặp lại một người em, người em gái láng giềng đôi mắt đỏ hoe và ngấn lệ sắp tràn mi ngày Hoan rời làng xưa.

Hoan còn nhớ đầu Xuân là mùa lúa mới. Mùa của những người nông dân tay lấm chân bùn sung sướng đứng nhìn những bông lúa chín no tròn rực rỡ dưới nắng xuân. Những bông lúa say quằn lã ngọn kia là kết quả của bao giọt mồ hôi mặn nồng nhỏ xuống trên những luống cày của mảnh đất quê hương.

Hoan biết rõ, năm tháng trôi qua, đời chàng có khác, nhưng con người nhà quê trong tâm hồn chàng còn đó. Nó vẫn sống, sống trong âm thầm, nhẫn nại và bình yên.

Bóng chiều của núi rừng đổ xuống mau. Hoan đứng lên đi theo con đường mòn trở vào Buôn.

Hơn tuần nay Hoan thường nghĩ tới việc rời Pleiku nhưng chàng chưa có dịp cho các bạn biết, nhất là Hnu, bởi Hoan chưa biết rồi chàng có trở lại thành phố nhỏ nên thơ của núi rừng nầy không.

Làm sao Hoan biết được ngày mai bởi trong cuộc sống của con người, chỉ một bước nhỏ xoay ngang là cuộc đời sẽ mãi mãi đi về một hướng khác rồi.

Biển Hồ rất thơ mộng, nằm cách thị xã Pleiku 6, 7 cây số về hướng bắc. Hoan cầm tay Hnú chậm bước theo ven hồ đến ngồi dưới bóng mát tàng cây. Sau một hồi im lặng, mắt Hnú ướt lệ nhìn Hoan nói:

- Em Thương anh, em muốn mãi mãi gần anh. Người Thượng biết làm thế nào để giữ người mình muốn giữ, em có thể làm cho anh mất ăn, không ngủ, mà ngày đêm chỉ nhớ em thôi, nhưng em không làm, em sẽ không bao giờ làm bởi vì em quá yêu anh, em để cho anh tự do như một cánh chim giữa khung trời bao la, em không thể cột chân anh ở xó rừng nầy. Em...

Hnú nghẹn ngào ngả đầu trên vai Hoan, Hoan lặng lẽ ôm Hnú vào lòng. Chàng hôn trên tóc, lên môi, lên đôi mắt đẫm lệ của nàng. Vai Hnú run nhẹ. Nàng lặng lẽ nằm trong vòng tay ấm áp của Hoan. Cả hai cùng im lặng, cái im lặng của đôi tình nhân đang đắm chìm trong hạnh phúc yêu đương hay cái im lặng buồn trong đoạn cuối của một cuộc tình? Nào ai biết được ngày mai!

Xe về tới Sài Gòn đậu lại ở bến xe Miền Ðông. Hoan quảy xắc lên vai gọi tắc-xi đi vào bến xe Miền Tây. Một lát sau xe rời bến chạy phon phon trên đường về quê mà tâm trí Hoan mãi quấn quýt với bao bóng dáng thân yêu ngày cũ. Nó cứ tìm về dĩ vãng, tìm về nơi trú ngụ cuối cùng, nơi có kho tàng cất giữ bao nhiêu hình bóng của ngày qua.

Vừa bước xuống xe, Hoan bồi hồi nhìn quanh. Cảnh vật vẫn như xưa. Vẫn cây cầu sắt ba nhịp đen sì, vẫn con đường trải đá xanh và hàng me già dọc theo bờ sông. Mùa nầy me chưa trổ bông nhưng so đũa thì bông nhiều lắm. Mấy con chim rít cô nhỏ bé thoăn thoắt chuyền từ chùm bông nầy qua chùm bông khác, vừa hút mật vừa hót líu lo.

Hoan đi được một đỗi thì đã ngang qua khu vườn cũ rồi tới nhà ông bà hàng xóm. Bà đương thơ thẩn trước sân, Hoan nhận ra bà, bỗng chàng nói thầm: Chỉ mới mấy năm thôi mà thời gian đã nhuộm mái tóc bà trắng bạch như vôi!

Bà ngó Hoan ngập ngừng hỏi:

- Cậu là... là cháu Hoan đó phải không?

- Dạ phải. cháu là Hoan. Cháu chào bà. Ông bà vẫn được khỏe luôn?

Bà già móm mém cười:

- Ông bà vẫn khoẻ. Ngó thẳng Hoan, bà nói tiếp: Cháu đã lớn rồi, suýt chút nữa bà không nhận ra cháu. Cháu vô nhà ngồi nghỉ chờ một lát ông về, ông sẽ rất vui được gặp lại cháu.

Hoan ngước nhìn mặt trời lại nhìn đồng hồ tay rồi đáp:

- Cảm ơn bà, cháu muốn đi vô xóm trong thăm mấy người bạn, bà cho cháu kính lời thăm ông.

Bà nheo mắt mỉm cười nói:

- Cháu còn nhớ con Hạ không?

- Dạ có. Cháu nhớ.

Bà vui vẻ tiếp:

- Bà còn nhớ hồi hai đứa còn nhỏ thường cặp kè nhau và bà thường nghĩ khi lớn lên hai đứa sẽ sống bên nhau suốt đời nhưng bây giờ thì đã khác... Nó đã lớn, nó đẹp, và đã lấy chồng!

Hoan thẫn thờ đứng lặng mắt đăm đăm nhìn rừng cây trước mặt. Bà già kể:

- Vài hôm trước ngày đi lấy chồng, nó tìm gặp bà buồn buồn hỏi về cháu nhưng bà có biết tin gì về cháu đâu! Ngừng một lát, bà nói tiếp: Nghe nói tháng trước nó một mình trở về nhà cũ.

Hoan nói mau:

- Cảm ơn bà. Cháu phải đi.

Hoan bước đi nhưng lòng ngập ngừng tự hỏi: Hạ đã lấy chồng, mình có nên tìm gặp Hạ không? Không sao. Mình đi thăm một người em, người em gái láng giềng, người em của tuổi thơ! Lòng ngập ngừng nhưng chân vẫn bước đi.

Bây giờ là mùa gặt, mọi người đương bận việc ngoài đồng nên đường làng vắng lặng. Tới khoảng đường đê, Hoan ngước nhìn bầu trời trong quang đãng. Xa xa, nhiều bóng người loanh quanh làm việc trên đồng lúa mênh mông, vàng tươi dưới ánh nắng chiều. Ði hết đoạn đường đê, quanh co thêm một đỗi Hoan đã đứng trước cổng nhà Hạ. Qua liếp rào thưa, Hoan thấy nhà Hạ im vắng. Khu vườn cam quít ngày nào ngào ngạt hương hoa mà nay trông cằn cỗi, già nua, như thiếu bàn tay chăm bón. Bên cổng rào, cây vú sữa ngày ấy cành lá sum sê, la đà trên mặt đất mà nay đã cao vời vợi. Hoan đứng lại giữa sân, nhà Hạ vẫn im lìm, chỉ có tiếng vo ve của bầy ong mật bay lượn trên những chùm bông mướp vàng bên hông nhà. Hoan bâng khuâng lặng nhìn cảnh cũ, nhìn vạt nắng chiều vàng vọt chiếu trên tàu lá dừa rũ xuống nửa chừng, Hoan thiết tha nhớ mái tóc thề, nhớ đôi mắt buồn của Hạ. Hoan đứng lặng nhìn bóng mình lẻ loi trải dài trên sân vắng. Lòng mãi phân vân chưn ngập ngừng, chợt Hoan nghe tiếng kẽo kẹt như tiếng nhịp võng ru con. Tiếng nhịp võng từ đâu? Từ nhà Hạ hay từ mái nhà tranh bên kia bờ mươn nhỏ? Giữa lúc lòng Hoan bâng khuâng tự hỏi thì một giọng hát ru con vang lên cao ngất giữa buổi chiều hoang vắng. Tiếng hát cao và trong như tiếng va chạm của thủy tinh phải là tiếng của thiếu phụ rất trẻ:

"Ầu ơ...ơ...ơ..., bướm vàng đậu đọt mù u. Lấy chồng càng sớm, ầu ơ...ơ...ơ..., lấy chồng càng sớm, tiếng ru càng buồn".

Tâm hồn Hoan bàng hoàng như say như tỉnh. Chàng như một pho tượng bất động mà sao đôi chân đã đưa Hoan ra khỏi sân nhà của Hạ tự lúc nào. Những bước chân không hồn đưa Hoan xa dần nơi ấp ủ bao nhiêu hình bóng cũ mến yêu.

Nắng chiều nhạt nhòa đổ xuống trên cánh đồng. Hoan đã đi xa. Ngôi nhà mái đỏ của Hạ đả chìm khuất sau vòm cây mà sao tiếng hát ru con buồn xa vắng kia vẫn còn vang dội mãi bên tai!

xuân 2000