HAI CHỊ EM

Nguyên Nhung

Lời người viết:

" Những mẩu chuyện tâm tình này, được gọi chung là Những Câu Chuyện Đến Bây Giờ Mới Kể" nằm trong nhiều số Đặc San của hai ngôi trường Trung học Phan thanh Giản và Đoàn thị Điểm. Hy vọng rằng dù chỉ là những mảnh chuyện vui buồn góp nhặt được trong đời học sinh, sẽ đem tới nụ cười hồn nhiên và một thoáng vui chung của tuổi học trò đến Quý Giáo Sư và các cựu đồng môn năm cũ.

Nguyên Nhung

Người đời có câu: " Nhất Quỷ, nhì Ma, thứ ba Học Trò", thật chẳng sai chút nào. Bây giờ ngồi nhắc lại những kỷ niệm thời đi học, điều làm tôi nhớ nhất vẫn là những trò tinh nghịch của lũ con gái, mà mấy ông anh thân thương trường Phan của tôi cứ tưởng lầm rằng "em hiền như ma-xơ". . .

Năm ấy chị tôi chuyển từ trường Nữ Trung Học Gia Long ở Sài Gòn, về Cần Thơ làm học trò trường Phan, thời giáo sư Nguyễn Trung Quân làm hiệu trưởng. Nữ sinh Sài Gòn nhưng chị tôi hiền như ni cô, đến xe đạp không biết chạy, vì thời đi học ở Sàigòn từ nhà đến trường khá xa, phương tiện di chuyển là xe "bus" công cộng, và có khi là xe thổ mộ. Loại xe ngựa thông dụng nhất trên con đường từ Ngã Tư Bảy Hiền lên Sài Gòn, có đủ loại hành khách trên đó. Mấy bà nội trợ đi chợ sớm, bà má miền Nam chở đồ hàng bông đi bán ở chợ xa, miệng nhai trầu đỏ choét, vài cô nữ sinh tiện đường đi học.

Cái thú đi xe ngựa cũng thiệt vui, tháo guốc dép cầm trên tay, vén áo dài rồi xách cặp chui vào một góc . Và khi xe bắt đầu chạy thì ôi thôi thú vị vô cùng, bánh xe bon bon trên con đường tráng nhựa chẳng bằng phẳng gì cho lắm, nhưng tiếng vó ngựa lốp cốp gõ xuống lòng đường, và gió mát nhè nhẹ như mơn man những sợi tóc mai trên đôi má hồng của mấy cô nữ sinh.

Khi về Cần Thơ, chị tôi học trường Phan, tôi học trường Đoàn, phương tiện vẫn là " lô-ca-chân" mà thôi. Vì thế sáng sáng phải dậy sớm, mới năm giờ khi mẹ tôi dậy đi nhà thờ buổi sáng là chị tôi đã dậy theo, chị bảo sáng sớm học mau thuộc hơn buổi tối. Riêng tôi thì cho là buổi sáng vừa học bài xong, còn nhớ như in, vào lớp trả bài dĩ nhiên là còn nhớ, để qua một đêm sẽ quên ít nhiều, nếu như đêm ấy đi ngủ tâm hồn lại đang tơ tưởng hay nằm mơ thấy anh chàng nào nữa, thì lại càng chóng quên.

Chị tôi siêng học lắm, học tối chưa đủ sáng lại dậy sớm để học nên người ốm o gầy còm, mình hạc xương mai, hình ảnh của chị tôi nhớ rõ, cúi đầu trên những trang sách với ngọn đèn Hoa Kỳ đốt bằng dầu hôi. Tôi ăn ngủ kỹ nên tròn vo như hột mít, nhờ thế mới có sức khỏe để cũng năm học đó, mẹ tôi thương tình hai đứa con gái phải đi bộ mà trường thì xa, nên mua cho chiếc xe đạp. Nhờ chiếc xe đạp này mà tôi trở thành tài xế của chị tôi, và cũng kiêm luôn " thổ công Cần Thơ" để hai chị em đi chơi không chừa một cái ngõ nào.

Tôi đạp xe rất khỏe, đã có lần đi thi chạy xe đạp chậm mà thắng giải, ở chỗ biết điều khiển tay lái vòng vo trên con đường quanh quanh quẹo quẹo, mà phải chạy làm sao thiệt chậm mới được thắng giải. Sau này khi mẹ tôi mua cho cái xe Velo Solex để chở chị tôi đi học trường Đại Học Cần Thơ, tôi lại đoạt giải quán quân trên các nẻo đường Cần Thơ. Đường nào mà tôi không đi thử, ngõ nào mà tôi không tìm vô cho biết, có khi con hẻm bắt đầu ở đường Tự Đức, sau lưng trường Đại Học, nhưng đến khi đi vòng vòng theo những con đường tráng xi măng, ngắm lá vàng rơi đầy vườn nhà ai, theo con rạch nước cạn mà đi ra khỏi ngõ thì nó đã qua tới đường Tạ Thu Thâu, gần cầu Tham Tướng.

Cũng vì cái Velo Solex " cà khổ" này mà suýt nữa tôi có người yêu là một anh sinh viên Khoa Học. Con gái thời đó tóc dài xõa lưng, áo dài trắng mà chạy xe Velo Solex thì ôi thôi, các chàng mê như ciné. Như đã kể, chị tôi không biết chạy xe gì kể cả xe đạp, nên vì thế tôi ưu tiên làm tài xế cho chị quanh năm, ngay cả chuyện sửa xe thì tôi cũng học lóm được của mấy anh thợ sửa xe để giải quyết khi cấp bách. Đến lúc chị chuyển vào học trong Cái Răng thì tôi thoát nợ, vì chị đi xe " Lam", loại xe chuyên chở thông dụng thời đó, hoặc đã có người tình nguyện làm tài xế cho chị rồi.

Hôm ấy tôi chở chị đi học, đến khi trở ra thì con đường hôm trước trời mưa to nên hôm sau còn trơn ướt, chiếc Velo không chịu tiến bước, nó ì ra vì bánh xe quết đầy bùn. Tôi phải xăn áo dài cạy bùn từ hai cái bánh xe ra, đến khi xong đẩy vã mồi hôi mà xe không nổ máy. Đúng lúc ấy có một anh trông cũng ra dáng thư sinh "trói gà không chặt", bèn nhảy ra làm hiệp sĩ cứu người gặp nạn, làm tôi liên tưởng đến cảnh "Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga" của cụ Đồ Chiểu, " khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai". Nhưng anh này mồm miệng tía lia, vừa chùi bu-gi vừa không quên kèm theo mấy câu làm quen "quý danh là chi, học trường nào, nhà ở đâu, có mấy chị em?". Anh ta hỏi nhiều quá, lại còn xin quá giang ra phố nữa, khiến đang lúc bực mình vì xe hỏng, tôi ra điều kiện nếu anh làm cho xe chạy được, tôi sẽ chở anh ngay.

Đúng là trời hại tôi, cái xe đang ăn vạ bỗng như có phép lạ, anh chàng chỉ cần tháo cái " bu-gi" ra rồi đưa lên thổi thổi, dùng một cọng dây kẽm moi moi,móc móc chi đó, chiếc xe đang ì ra bỗng nổ máy ngon lành. Người chuyên môn hay các kỹ sư sửa xe đạp thì gọi là " bu-gi đóng trấu", bu-gi dơ là xe không nổ máy, sau này tôi mới nghĩ ra là con người cũng có chút nào giống cái xe, cũng có bu-gi đàng hoàng, hễ không xài được thì người cũng tiêu tùng theo mây gió.

Chắc chắn là tôi phải chở anh chàng kia đi về vì " một lời nói ra là một lời danh dự", nhưng " vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn", tôi ra điều kiện tôi vẫn là tài xế, anh chỉ được phép ngồi đằng sau, để lỡ như ai trông thấy về mét lại với mẹ tôi, thì bà cũng cho là tôi chở em của bạn đi học. Anh chàng này nhiều chuyện dữ ha, tuy ngồi đằng sau nhưng anh luyên thuyên kể chuyện, và còn khen tôi dễ thương nữa trời ạ, thành ra tuy thích chí vì mình cho anh vào "xiếc", nhưng tôi vẫn cảm động vì chỉ nghe mình anh nói tôi dễ thương, còn ở nhà ai cũng bảo tôi dễ ghét. Thứ nhất tính tôi tinh nghịch, lười học, ăn nói thì luông tuồng không khéo léo, trong khi chị tôi hiền dịu, ăn nói dịu dàng , chị như tấm gương để tôi trông vào, nhưng thôi cha mẹ sinh con trời sinh tính, tôi lớn tồng ngồng mà chỉ thích mẹ sai đi xách cơm heo cho mẹ, theo lũ trẻ trong xóm lặn hụp dưới sông mò hến, câu cá, chèo xuồng đi chơi thôi.

Khi chở anh tới nhà như lời hứa, anh cứ nài nỉ tôi " dời gót ngọc" vào xem cây khế nhà anh đang trĩu quả, vàng óng trên cây lủng la lủng lẳng hấp dẫn thế kia, thì làm sao tôi "lùi gót ngọc" cho được. Ngay lúc ấy, có bóng một cô con gái tóc xõa ngang lưng, khuôn mặt đẹp như ngọc lấp ló từ trong nhà nhìn ra, tôi đoán là cô em gái của anh chàng, mà lạ lùng là tôi lại bị hấp dẫn bởi khuôn mặt rất dễ thương kia( có lẽ cô này mới dễ thương chứ không phải là tôi). Anh em gì mà giống tính nhau ghê nơi, tôi được cô bé chạy ra mời ở lại chơi, lại còn cho ăn thêm hũ "yaourt " đá mát lạnh nữa. Qua câu chuyện, tôi mới biết cô bé cũng dân trường Đoàn, học dưới tôi hai lớp, thế là chuyện trò như bắp rang, cô này cũng biết khen tôi dễ thương, anh em học cùng một sách và cùng một cha mẹ sinh ra sao giống nhau thế, làm cho tôi càng có cảm tình với cô, tôi còn dịp để gặp cô thêm vài lần nữa. Khi về lại được tiễn chân một bịch khế chua chua, ngọt ngọt nữa, đúng là " hữu duyên lọ phải cơ cầu mới nên".

Không biết có phải vì tôi cho anh ngồi phía sau, mà cơn gió Cần Thơ thổi ngược ít mùi hương con gái khiến anh sau này tương tư cô tài xế, từ đó hễ ra đường là tôi đụng mặt anh. Hỡi ôi không biết có phải là "vô duyên đối diện thấy. . . xa liền" hay không, mà tôi lại dửng dưng trước tấm tình nồng nàn của anh bắt đầu từ cái Velo Solex, chẳng hề rung động mảy may một ly ông cụ, mà chỉ nhớ cái cô em đồng môn dễ thương kia thôi. Tôi và con nhỏ bạn thân ở trọ nhà tôi đi học bên trường Tân Văn, hay ngồi ở mái hiên trước nhà, hai đứa thường gân cổ ca bài "Anh ơi, suốt đêm thao thức vì anh" để chọc mấy anh sinh viên ở trọ trong xóm, đi học qua nhà tôi. Tôi còn nhớ một anh rất hiền, mỗi lần đi qua nhà anh nghe tụi tui ca bài" Anh ơi!" anh sợ quá mặt đỏ lên như say rượu, vội vàng lủi nhanh.

Anh bạn đi nhờ xe Velo Solex chưa chịu buông tha tôi, dù đã mấy lần tôi nói với anh là tôi chỉ cho anh quá giang vì vui, chứ không có tình ý gì ráo trọi. Anh còn mua quà tặng tôi mùa Giáng Sinh, không chịu nghiên cứu sách vở nên món quà anh tặng tôi như báo trước điềm chia ly, chẳng đi tới đâu hết. Đó là một chiếc khăn tay có "rua" hiệu Hồng Kông ướp nước hoa thơm phức, trong một cái hộp bằng trang kim cũng rất đẹp, khi mở ra, con bạn tôi liền phê ngay một câu rằng tặng khăn tay là để lau nước mắt người đi. Tin vào cái điềm " nước mắt chia ly" này nên tôi lại càng không thấy mình có chút gì gắn bó với anh hết trơn hết trọi, để rồi đời cũng qua đi, chuyện tình Velo Solex chẳng đi về đâu, tôi cũng chẳng biết anh giờ này lưu lạc phương nào.

Bây giờ quay lại chuyện của chị tôi, với một đám bạn bè dân ban C trường Phan thanh Giản. Đối với tôi, các anh chị ấy đều là những triết nhân của thời đại, thời mà văn chương của Giăng Pôn Xạc, của Phăng Xoa Sa Găng, Phạm công Thiện, Mai Thảo và Yêu của Chu Tử, họ ngồi nói với nhau chuyện gì tôi chẳng biết, những là chủ thể, định thể, thực thể, cố thể. Họ làm thơ, viết văn kiểu lập dị, hai chữ cũng thành một câu, nhưng anh chị nào cũng chăm học, vì nếu không thi đậu Tú kép để lên Đại học thì hành trang sẽ là "vai mang ba lô rong ruổi đường chinh chiến, khoác chinh y giày sault, gió núi với mưa rừng", cùng lắm thì cũng đi vào"mật khu xình lầy" thôi. Chị tôi học giỏi lắm, tôi nhớ năm đó chính thầy Nguyễn trung Quân đã trao giải thưởng học sinh xuất sắc cho chị, và còn được xem một màn văn nghệ "cây nhà lá vườn" của các nam sinh trường Phan thanh Giản ở hội trường nằm trên lầu 2 có nhiều ma của Trường nữa.

Chị tôi hiền hòa, nhu mì, ăn nói nhỏ nhẹ nên có lắm người thương, ngay tronng lớp chị mà có tới 2 người thương chị, một anh nhà ở ngoài đầu hẻm, nhà khá giàu nhưng vẫn để một cái thùng bán nước đá cục, chắc là để mẹ anh kiếm thêm tiền chợ. Còn anh kia thi rớt năm cuối, đi Thủ Đức binh chủng Biệt Động Quân, mỗi lần về phép nhìn anh ngầu ngầu với bộ chinh y còn khét mùi thuốc súng, râu tóc bờm xờm đúng là dân tác chiến. Mỗi lần anh đến thăm chị tôi, tôi đều hay ca bài " 24 giờ phép", để chọc anh, rồi ngân ư ử câu : " đưa ta đi về nguyên thuỷ loài người . . . ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay", đúng là anh nhạc sĩ giàu tưởng tượng, viết nhạc tượng hình hết xẩy.

Riêng anh học cùng lớp với chị tôi nhà ở đầu hẻm, thường hay vào nhà để lấy cớ trao đổi bài vở và trồng cây si luôn thể, hễ thấy mặt anh là tôi chọc quê " bán đá cục đi!". Hồi anh chưa quen chị tôi, tôi vẫn thường được sai đi mua nước đá, anh thấy cô bé xinh xinh mặc quần "short" màu xanh thể thao, hay réo anh để mua nước đá thì thường là bán rẻ hơn người khác. Anh và chị tôi cũng không có duyên với nhau, năm đó anh chăm học mà vẫn thi rớt tú tài đôi, phải vội học sư phạm thực hành ở Vĩnh Long để khỏi đi lính. Sau năm 75, tôi về xóm cũ sống lây lất qua ngày ở khu chợ nhỏ, anh đưa cho tôi nhờ bán hộ từ xà bông , bột ngọt đến dầu cù là con hổ, bán bao nhiêu lủm hết bấy nhiêu vì không tiền mua gạo ăn. Tôi bèn gạ anh bằng cách đổi những cuốn sách đủ loại còn rơi rớt lại trong nhà, dù đã bị đổ vào thùng phi để nấu cơm mà vẫn còn sót lại một mớ. Sách hồi ấy quý lắm nhưng những sách của Nguyễn hiến Lê, Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Trần Tiêu, Thế Lữ, Nguyên Hồng rồi tự điển Anh , Pháp Việt đều thuộc loại văn hóa đồi trụy, được dùng làm mồi lửa nấu cơm, có khi tôi vừa nấu cơm vừa mê mải đọc, gỡ gạc chút chữ nghĩa trước khi cho đi vào tro bụi.

Còn một anh học ban B, ở cùng hẻm, cũng học sinh Phan thanh Giản, mặt chầm dầm ít nói mà sao cũng biết trồng cây si. Anh này hay cho tôi mượn sách, mà lại toàn sách học, toán là tôi kỵ nhất rồi đến sách triết, vậy mà cứ cái hai món đó anh đưa hoài làm tôi phát chán lên được. Thỉnh thoảng viết thêm một lá thư văn chương "khô như ngói", chị tôi và con bạn quý cùng ngồi bình luận văn chương rồi kết luận, dưới điểm trung bình. Trước khi đi lính, anh hỏi tôi thích lính gì, chẳng suy nghĩ tôi liền bảo anh là chỉ thích lính thủy, mấy anh có yếm dãi trẻ con hay con khô mực gì đó, mà mỗi lần được giờ nghỉ, bọn con gái thường rủ nhau ra bến Ninh Kiều chụp ảnh, thấy mấy cái tàu đậu ngoài xa lại có mấy anh quần áo trắng tinh lên bờ đi phất phơ. Vậy mà cái anh ban B ấy đi sĩ quan Hải Quân, rồi khi " tàu anh ra khơi, thoáng thấy mắt em nhuốm buồn" thì tình anh cũng nghìn trùng sóng vỗ.

Riêng tôi nghịch ngợm vậy mà lại có cảm tình với một anh bạn trường Phan, khá cao ráo đẹp trai. Cũng ở cái tật " nghinh" nhau mà thành quen biết, mỗi ngày đi học, tụi tôi có đến mấy đứa"cùng một tần số" đứng trên hành lang ngó xuống đường điểm mặt mấy tên con trai hay trố mắt ngó lên, hai bên " tám lạng nửa cân" chiếu tướng nhau xem ai sợ ai, đúng ra thì trợn mắt nhìn nhau, nhìn mãi rồi quen mặt, hôm nào vắng thì cũng...hơi buồn. Hôm ấy sau giờ học, cả bọn con gái ngồi ăn đá đậu thì phe kia sáp vào, đòi xin trả tiền giùm cho mấy đứa con gái, thế là quen.

Bây giờ thì không ai " nghinh" ai nữa, có khi còn đi chung một đoạn đường trước khi vào lớp. Chỉ duy nhất có một lần vào nhà D.H.H ở Đầu Sấu, Cái Răng ăn xoài và xem vườn nấm rơm, có thêm một cô bạn thân để " đỡ đạn" khi cần thiết. Ba má của anh D.H.H thật dễ thương, rất quý bạn của con nên có bao nhiêu xoài lớn, xoài nhỏ, xoài xanh, xoài dòn dòn đều bắt dọn ra hết. Trước khi vào nhà D.H.H, phải đi ngang một cái cầu khỉ, tụi tôi sợ rung chân không dám đi qua, thật là dịp may ngàn năm một thuở, tôi chỉ dám đưa có một ngón tay để anh bạn đưa qua cái cầu khỉ lúc la lúc lắc, vậy mà tim cứ rung rinh mãi đến mấy ngày chưa hết rung. Tuổi học trò ngày xưa ít khi nào cha mẹ cho mời bạn trai đến chơi nhà, có lần anh đến nhà bị mẹ tôi ra vô " dặng hắng" miết, anh rét quá không dám đến nữa. Nhưng anh rất tức mình khi thấy tôi lại được đi chơi với chị tôi và mấy anh, chị bạn cùng lớp của chị, vì thế mà hờn giận viết thư chia tay, lại còn làm thơ cóc nhái tặng " cho ải cho ai" thì tôi cũng quyết chí chia tay cho lợi gan lợi mật. Bởi vậy niên học mới, tôi buồn so làm mấy vần thơ buồn đứt ruột:

" Ngày tựu trường lòng tôi sao trống vắng

Đếm trên đường, từng bước với cô đơn

Người ta vui sao chỉ có tôi buồn

Tình êm đẹp bây giờ không còn nữa"

Thơ là một chuyện, thật ra tôi đi học bằng xe đạp, cho nên vẫn phóng xe vi vút với bạn bè, có hôm trời mưa to, cả bọn ào ra chạy riết về nhà, quần áo ướt như chuột lột.

Bây giờ thỉnh thoảng buồn tình làm dăm bài thơ, tôi lại nhớ đến chị tôi. Chị làm thơ khá hay, bài thơ "Nụ hôn đầu" của chị tôi "copy" làm của mình được nhiều người ái mộ, nhưng cũng nhờ chị mà tôi thành thi sĩ. Tôi chép lại ra đây và xin thú thiệt là không phải thơ của tôi:

" NỤ HÔN ĐẦU

Anh thổi sáo cho hồn em ngất ngây

Hồn chơi vơi với tiếng sáo dâng đầy

Và kề môi, em tập làm nghệ sĩ

Em chợt buồn trong tiếng sáo thơ ngây."

Ghê thiệt! Tuổi học trò mà biết tả tình yêu mùi mẫn như vậy , nếu mẹ tôi biết đọc thơ như đọc kinh, sẽ cho một bài gia huấn ca cẩn thận. Hình như chị em tôi đứa nào cũng có tính yêu văn chương, vì thế có những đêm khuya ngồi chong đèn, vừa đập muỗi vừa viết truyện, làm thơ, nhưng chẳng ai biết tới thứ thơ thẩn, văn chương của đám "vô danh tiểu tốt" này. Thấy mấy anh chị trong các thi văn đoàn như " Về Nguồn, Triều sóng Xanh" tụi tôi mê lắm, chiêm ngưỡng như thần tượng, trong đó có nhà thơ Lê hoàng Viện trường Phan nữa. Hồi mới học làm thơ, thầy Việt văn bắt mỗi đứa về làm một bài thơ, đến ngày cuối cùng rồi mà tôi nặn không ra, ngồi vắt óc mà lảm nhảm hoài :

" Tùng, tùng, cắc cắc, tùng tùng

Tùng tùng, cắc cắc , tùng tùng, cắc tùng"

Chị tôi thấy con em ngồi thộn ra, tay cầm bút, miệng lảm nhảm : " tùng tùng, cắc cắc, tùng tùng", nhưng khổ lắm, khi tìm được ra câu thì lại không vần, thành ra thơ đọc nghe như đàn ngang cung. Thấy chị hỏi tôi mừng quá, hai đứa giao kết với nhau tôi phải rửa chén lau nhà, chị sẽ làm thơ cho tôi, lại tả thầy nữa thì chắc hẳn bài thơ sẽ chiếm giải nhất. Ui cha! Tôi phải làm hết công chuyện nhà, trong khi chị chỉ ngồi chưa đầy 5 phút là đã xong bài thơ tả thầy tôi có mấy câu tôi còn nhớ:

" Thầy tôi dáng vóc thon thon

Từ xa thầy đã miệng dòn cười duyên

Thầy tôi giảng dạy cần chuyên

Quanh năm đến lớp giảng khuyên học hành."

Hai chữ "cười duyên" ăn tiền hết xảy, chẳng biết thầy "có duyên" thiệt hay không, nhưng khi được khen "có duyên" thì thầy cũng thích, bài thơ được thầy đọc cho cả lớp nghe, và tôi nổi tiếng là thi sĩ từ đó. Sau này, từ bài thơ đó tôi còn được chị dạy cho làm thơ thất ngôn bát cú, rồi thơ 8 chữ, 5 chữ gì đủ hết, nên mỗi độ hè về, khi chia tay bạn bè, dù chẳng đứa nào đi đâu tôi cũng làm thơ tặng bạn có câu:" Bạn đi, tôi ở chèo queo . . . một mình..." làm bạn tôi cười ngất.

Bây giờ già rồi tôi hay đăm chiêu nhớ lại chuyện cũ, nên có làm bài thơ nho nhỏ để nuối tiếc những gì đến rồi đi trong cuộc đời. Thơ này chẳng biết gọi là thơ gì, tự do hay là muốn viết gì cũng thành thơ, tôi chép ra đây cho mọi người cùng thưởng thức.

HÒN SỎI

Như hòn sỏi

Ném xuống mặt hồ

Sóng gợn

Chút âm ba còn vọng mãi trong hồn

Đến bây giờ

Khi tuổi đã hoàng hôn

Chợt mới hiểu

Có nhiều điều rất quý

Màu đỏ thắm

Của cành hoa phượng vĩ

Lung linh

Dịu dàng

Soi bóng xuống dòng sông

Chút nắng vàng

Lấp lánh trên ngọn thông

Đốm lửa cháy

Lắt lay trên ngọn nến

Anh đã đến

Rồi đi trong lặng lẽ

Trời mùa Đông

Buốt giá mảnh trăng tàn

Có nỗi buồn

Chợt tới

Nhẹ như sương

Như hòn sỏi

Ném xuống mặt hồ

Lặng sóng . . .

( Thơ Nguyên Nhung)

Tuổi đời chồng chất, thơ tôi không ngô nghê, dễ thương như hồi còn trẻ, bởi vì " có đôi khi đời tưởng rất dễ yêu, thì cũng lại có nhiều điều dễ ghét", thơ tôi chắc cũng già đi và tơi tả như cây dừa cụt đầu ở cổng ngôi trường Phan thanh Giản, và cũng vàng úa theo những chiếc lá sao khô bay lả tả bên ngoài khung cửa sổ ngôi trường Đoàn thị Điểm năm xưa.

Tôi tin con người có số mệnh, bởi vì chỉ cá nhân chị em tôi, tôi đã thấy rõ điều đó. Chị tôi hiền lành, chăm học, ăn nói dịu dàng, được nhiều bạn bè thương mến, chị đem kiến thức của sự học để truyền bá lại những điều tốt đẹp cho thế hệ mai sau. Bây giờ về già, sau những năm vật lộn với chữ nghĩa, đổi chữ thành cơm, bây giờ khi đến tuổi hưu, vẫn đói meo với đồng lương chết đói cuả nhà giáo. Tôi, con em nghịch ngợm, lười học, chỉ thích đi xách cơm heo cho mẹ, thích chạy xe lang thang với bạn bè trong những con hẻm nhỏ của Cần Thơ năm nào, nay viết lách có chút tiền còm, gửi về cho chị mình, để trả ơn người đã dạy tôi " mần thơ" ở tuổi tập tễnh làm thơ.

" Đời thường "hay không bằng hên" là thế!"

Nguyên Nhung, 2005

( Viết cho chị tôi, cô nữ sinh trường Phan năm xưa)