Để Nhớ Về Một Người Bạn

Được sự khuyến khích và góp ý của người ‘bạn thân’, tôi mới có can đảm ngồi vào bàn ghi lại những cảm nghĩ cũng như kỷ niệm của một thời áo trắng ngày xưa. Ngày tôi bước vào Trung Học cũng là năm đổi tên lớp là lớp 6 (trước gọi là Đệ Thất). Học trường mới, lớp mới tôi rất bỡ ngỡ, không quen biết một ai nên thấy nhút nhát lắm. Còn đang ngắm đi ngắm lại chiếc áo dài đẩu đời đang mặc trên người thì cổng trường đã mở rộng để đón học sinh các lớp buổi chiều. Tôi vội vã đi theo lớp sóng người áo trắng vào trường để tìm lớp. Tôi loay hoay mãi mà chưa tìm ra lớp học thì đàng sau bỗng nghe tiếng nói:

"Bồ tìm lớp nào vậy?", một chị có vẻ hơi lớn hơn tôi một chút, có một nút ruồi và cặp kính cận trên mặt, hỏi tôi với ánh mắt thân thiện . Tôi lí nhí trả lời "Lớp 6P1".

Thì ra tôi với bạn ấy học cùng lớp, thế là tôi với Diệu (sau đó tôi mới biết tên là Võ Xuân Diệu) mau chân đến lớp để dành chỗ. Tôi thì thích ngồi ở phía trên để có thể nhỉn rõ hơn hoặc còn lý do nào khác nữa mà tôi cũng khộng biết – sau này lên Đại Học đi khám mắt tôi mới biết là mình bi loạn thị. Vì chuyện này mà trong suốt mấy năm trung học tôi luôn ngồi ở đầu bàn nhì dãy giữa gần cửa. Lớp tôi đa số gồm các bạn học ở trường Nữ Tỉnh Lỵ hoặc các trường công lân cận, chỉ riêng tôi và một vài người nữa đã học ở trường tư (Trinh Vương,…). Cho nên mấy tháng đầu tôi rất bỡ ngỡ vì chưa có bạn.

Thời gian đầu phải nói là tôi rất nể phục Diệu vì sự vui vẻ, dạn dĩ và hoạt bát của cô nàng. Cả lớp đề đồng ý bẩu Diệu vào chức Trưởng Ban Xã Hội (hay Phó Trưởng Lớp, xin lỗi đã không nhớ rõ lắm), tuy nhiên cũng trong năm ấy với tài ăn nói khéo léo Diệu đã đắc cử làm Trưởng Ban Xã Hội Toàn Trường cùng làm việc chung với các chị lớp lớn. Sau đó cho đến 30/4/75 Diệu lúc nào cũng giữ chức Lớp Trưởng và tôi thì là Trưởng Ban Học Tập. Sau này khi chơi thân với nhau, tôi mới biết Diệu xuất thân từ một gia đình mô phạm – ba của Diệu là hiệu trưởng trường Tiểu Học Võ Tánh, Võ Xuân Qui, Diệu có 2 anh (Võ Xuân Thắng & Võ Bình Minh)đang học những năm cuối trung học và 2 cô em gái, Võ Thị Thùy Dương & Võ Xuân Thanh Trúc (Thùy Dương đồng thời cũng là bạn cùng học Judo với tôi ở võ đường Nhu Đạo Cần Thơ của chú năm Nguyễn Văn Chơi). Vì thế thảo nào mà Diệu không thừa hưởng được những đặc tính tốt đó từ gia đình.

Tình bạn của chúng tôi lớn dần theo năm tháng với thật nhiều kỷ niệm. Ngoài Diệu ra tôi cũng còn có một số bạn bè thân khác: Nguyễn Thị Kim Khôn, Hoàng Thị Minh Loan, Phạm Việt Hà, Ngô Thị Xuân, … nhưng hình như chỉ có Diệu là người được tôi kể lể tâm sự nhiều nhất; ngay cả lần dang dỡ đầu tiên Diệu đã an ủi và khuyến khích tôi rất nhiều nhờ đó mả tôi có thể quên đi đau khổ để chú tâm trở lại việc học. Mấy năm đầu của Trung Học Đệ Nhất Cấp, chúng tôi có cái thú (hoặc có thể nói là đam mê) tranh đua để được xếp hạng cao trong lớp cũng như có hãnh diện đươc lãnh phần thưởng mỗi cuối năm học. Thói quen nầy cũng theo chúng tôi trong những lớp đệ nhị cấp nữa. Chúng tôi ganh đua từng điểm một với nhau tuy nhiên vẫn chơi chung sau đó một cách thân mật. Thích nhất là những lần làm toán chạy trong giờ thầy Võ Tâm Trung, đó là một trong những điểm quyết định cho thứ tự xếp hạng trong mỗi tháng của lớp chúng tôi. Gần như lả mỗi tháng chúng tôi đứa nào cũng giở sổ điểm tự cộng lấy điểm của mình và một số bạn có điểm cao khác, hay trong các kỳ thi bán niên chúng tôi luôn ghi lại điểm của các môn thi của mình và các bạn, và sau đó không cần hỏi chúng tôi cũng tự biết ai là ngưòi chiếm được 4 thứ hạng đầu lớp. Thói quen này cũng đã theo chúng tôi luôn đến nhũng năm đệ nhị cấp. Riêng tôi thì rất thích khi nhìn ba má tôi hài lòng với thành tích học tập của tôi – đó cũng là kết quả cụ thể cho quyết định đưa tôi đi học xa nhà của ông bà và đồng thời là lời cảm ơn của tôi đến hai đấng sanh thành đã khó nhọc làm việc để gởi tiền cho tôi ăn học (mặc dù đôi lúc tôi cảm thấy cô đơn và tủi thân vì thiếu tình cảm gia đình).

Hình như các thành phần ưu tú của lớp P2 chúng tôi đều đã chọn ban B (Toán Lý Hoá) để lên Trung Học Đệ Nhị Cấp. Một trong những lý do chính mà chúng tôi nêu ra là ‘Con gái chỉ có thể theo ban A (Vạn Vật) mà thôi’. Riêng cá nhân tôi thì muốn tìm cho mình môi trường tranh đua mới sau 4 năm học chung với các bạn cũ. Đúng là một lối hiếu thắng đầy tính trẻ con phải không các bạn? Lúc đó chúng tôi quan niệm rằng ‘cái gì con trai học được thì con gái cũng có thể học và có thể còn khá hơn nữa’. Vậy là chúng tôi chuyên sưu tầm mấy bài toán khó để làm ‘tủ’ rồi đi tìm mấy anh trai giỏi toán ở trường khác để đố. Mỗi lần thấy mấy ảnh chịu thua thì tụi tôi thích chí lắm. Nhắc đến chuyện ấy tôi lại nhớ đến thầy dạy cour Toán Phạm Khắc Trí ‘Ba Túi’. Chúng tôi học nhảy Toán với Thầy cho nên nhờ vậy chúng tôi mới có cơ hội ‘đem chuông đi đấm xứ người’. Chúng con một lần nữa xin cám ơn Thầy và vẫn nhớ hoài lớp học chật chội ở trong con hẽm đường Duy Tân (gẩn đó là một nhà chuyên bán …mắm).

Lúc đó trường Đoàn Thị Điểm của tôi có 2 lớp 10B, lớp tôi học sinh ngữ 1 là Pháp Văn nên được đặt tên là 10B2 (do một số học sinh của 2 lớp cũ P1 và P2 hợp lại). Có một kỷ niệm tôi còn nhớ đến bây giờ cũng như nó đã làm cho lớp 10B2 của tôi trở nên nổi tiếng (như ‘cồn’). Số là như vầy: năm đó lớp tôi được xếp gần nhà vệ sinh của trường và không hiểu sao lúc ấy cái nhà vệ sinh này lại có một mùi thơm ghê gớm. Nhân danh là lớp trưởng, Xuân Diệu đã nhiều lần yêu cầu nhà trường có biện pháp giải quyết. Đợi mãi mà không thấy tình hình có gì khả quan, nên trưởng lớp tôi mới ‘sách động’ cả lớp biểu tình bãi khoá một ngày. Cả lớp tôi lúc đó rất đoàn kết cho nên trưởng lớp biểu gì làm đó. Rồi thì cả bọn bị (hình như là cô Tổng Giám Thị Trần Kim Lệ) ‘dũa’ sơ sơ nhưng bù lại nhà trường đã hứa sẽ cải thiện môi trường. Đúng là một đám nhóc không sợ trời sợ đất gì hết!

Tuy học ban toán nhưng tụi tôi cũng rất mê thơ, nhất là thơ tiền chiến. Diệu sưu tầm rất nhiều thơ và đặc biệt cô nàng có khiếu nhớ thật nhiều thơ của các thi sĩ xưa và nay. Có lẽ ba của Diệu mê thơ Xuân Diệu nên đã đặt tên cho cô nàng giống như vậy. Mỗi lần trong lớp có giờ trống vì giáo sư nghỉ, chúng tôi thường bắt Diệu và Tí …? (Nguyễn Thị Anh Thư) đọc thơ cho nghe. Vì thế mà những tờ bích báo của lớp tôi không bị chê là khô khan như dân ban B. Nhờ Diệu mà tôi mới biết được những bài thơ tình lãng mạn của các nhà thơ như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Đinh Hùng, Nguyên Sa,….Tập lưu bút ngày xưa của tôi đã dày đặc những trang thơ tình thắm thiết chứa đựng cả một trời mơ mộng của tuổi học trò, rất tiếc là nó đã bị thất lạc sau khi tôi ra đến nước ngoài. Cuộc đời nữ sinh của chúng tôi đã trôi qua êm ả, ngọt ngào như những ly đậu đỏ bánh lọt, da-ua; trái cốc, ổi, xoài được chia nhau ăn trước cửa trường hay những tô bún, dĩa bánh cuốn, ly kem trong chợ Cần Thơ (tôi cũng không quên những lần ăn vụng bị thầy cô bắt gặp trong lớp rồi bị phạt). Tụi tôi bắt đầu đặt biệt danh cho nhau: Diệu (Tí Bố), Tí Má, Tí Khờ, Bà Năm Sa Đéc…Vì vậy mà sau này Diệu thường xưng ‘anh’ với tôi mỗi khi nói chuyện hay viết thư cho tôi.

Nếu không có biến cố 30/4/75, có lẽ chúng tôi vẫn còn rất ngây thơ với lứa tuổi học trò. Sau ngày ấy, tôi về quê nhà tiếp tục học lớp 12; Diệu ở lại với trường cũ lớp mới. Chúng tôi gặp lại nhau sau một năm cách biệt. Lần này chúng tôi gặp lại nhau ở khuôn viên trường Đại Học Cần Thơ - Dìệu học Sư Phạm Hoá còn tôi Chế Biến Nông Lâm Thủy Sản (khoa Nông Nghiệp). Cả hai đứa tôi đã có những nét trưởng thành sau một năm dưới chế độ mới. Do thời khoá biểu học tập không giống nhau nên chúng tôi ít khi gặp nhau, dù vậy tình thân vẫn không vì thế mà phai nhạt. Lâu lâu hai đứa hẹn nhau ra ngồi trước cổng trường xưa để ôn lại chuyện củ hoặc nếu có ít thì giờ thì ngồi uống nước mía trước cổng trường ĐH hoặc ra chợ ăn hàng để kể cho nhau nghe những gì đã xảy ra. Diệu lớn hơn tôi hai tuổi, tôi lại không có chị lớn nên cô nàng hay lên mặt chỉ bảo cho tôi về lối cư xử, cũng có lúc tôi chịu nghe lời mà cũng có khi tôi nổi ‘quạu’ cự lại thì Diệu chỉ nhìn tôi với một cái nhìn khoan dung và trìu mến giống như tôi là một baby không bằng.

Học ở ĐHCT được 2 năm, tôi theo gia đình vượt biên vào đầu năm 1979. Rất tiếc vì đây là một sự ra đi không có dự tính trước nên tôi chẳng kịp cho ai hay. Thế là chúng tôi lại một lần nữa mất liên lạc của nhau. Sang đến Úc sau một thời gian ổn định, chúng tôi mới viết thư cho nhau. Diệu đã trở lại trường xưa với vị thế là cô giáo dạy Hoá cấp 3. Thỉnh thoảng tôi cũng gởi cho Diệu những món quà nho nhỏ để gọi là… Tôi nhớ có lần sau khi nhận được quà, Diệu đã viết cho tôi ‘Dung gởi cho ‘anh’ cái x… đẹp quá đến nỗi ‘anh’ muốn mặc nó không thôi để ra đường’. Những thư sau Diệu thường hay nói xa gần về ‘việc muốn lấy chồng xa xứ và nhờ tôi giúp đỡ’, lúc đầu tôi chưa hiểu ý của Diệu, dần dà tôi mới biết là Diệu cũng muốn vượt biên như tôi. Thế rồi thỉnh thoảng tôi vắng thư Diệu, tôi rất hồi hộp và mong cho Diệu sớm đạt được ý nguyện, nhưng Diệu ra đi rồi lại trở về.

Sau đó tôi vì bận con nhỏ và sức khoẻ không được tốt nên ít viết thư cho Diệu trong khi Diệu vẫn thư cho tôi đều đều. Bỗng trong 2 năm liên tiếp (1988 -1989) tôi không còn nhận thư của Diệu nữa, tôi vẫn ngỡ là cô nàng đã tới được bến bờ tự do. Tôi hằng cầu nguyện cho cô bạn của tôi sẽ được định cư ở Úc để chúng tôi một lần nữa sum họp với nhau. Tôi càng trông thì tin của Diệu càng bặt. Không thể kiên nhẫn được nữa, tôi viết thư về nhà Diệu để hỏi thăm tin tức. Một biến cố mà tôi không bao giờ ngờ có thể xảy ra – Thùy Dương (em gái của Diệu) thư cho tôi biết Diệu đã mất với một cái chết rất thảm thương; trên đường vượt biển tàu của Diệu đã gặp hải tặc, Diệu bị làm nhục và vì quá uất hận Diệu đã nhảy xuống biển để kết liễu đời mình; xác của Diệu đã chìm trong biển cả. Từ lúc được tin xấu, cả tuần sau đó tôi lúc nào cũng nghĩ đến Diệu ngay cả trong giấc mơ đêm nào tôi cũng mơ thấy cùng Diệu đi học ở trường Đoàn; tôi hỏi sao Diệu vẫn còn sống trong khi có tin là đã chết; Diệu chỉ nhìn tôi cười buồn. Tôi đã sửa soạn một mâm cơm để cúng Diệu vì tôi tin rằng nếu mơ thấy người thân đã chết tức là họ bị đói.

Cuối năm 1989, tôi về Cần Thơ, cùng với một số bạn cũ qua xóm Chài để thăm ba mẹ của Diệu. Nhìn lên bàn thờ, tấm hình đẹp nhất của Diệu đã được rửa lớn; bên cạnh là vẻ mặt rầu rầu của Ba và khuôn mặt đầy nước mắt của Mẹ Diệu làm cho chúng tôi không khỏi xúc động. Thế là Diệu của tôi đã ra đi mãi mãi, tôi đốt một nén nhang cắm trên bàn thờ của Diệu với lời chúc Diệu hãy ngủ yên, quên đi những phiền toái của cuộc đời để đi vào một thế gìới chỉ toàn yêu thương và hạnh phúc. Tôi xin phép ba mẹ Diệu để được đặt hình của Diệu lên bàn thờ nhà tôi; gọi là chút lòng tưởng nhớ đến người bạn đã vắn số. Vì không biết được chính xác ngày mất cùa Diệu nên mỗi cuối năm tôi để ra một ít thời gian để nhớ về Diệu, một người bạn thân mà suốt đời tôi vẫn nhớ. Tôi không có cúng Diệu mỗi năm vì tôi đã mời vong hồn của Diệu về nhà tôi cùng ăn cơm tối với gia đình.

Năm nay sắp là lần giỗ thứ 16 của bạn tôi, tôi xin đốt một nén hương lòng để tưởng nhớ đến Diệu, một kỷ niệm của thời xa xưa, một tình bạn không gì sánh được của thuở mới lớn. Tôi suốt đòi vẫn nhớ đến Diệu với đôi kính cận nặng, với nút ruồi duyên, với cặp mắt chứa cả một trời mơ và với nụ cười nửa miệng đầy vẻ khinh thế ngạo vật. Tiếng hát văng vẳng đâu đây ‘nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hưong xưa….cho tôi gặp người xưa ước mơ’, vâng tôi cũng đang mơ đây. Tôi mơ một lần gặp lại Diệu cũng như tôi đang muồn tìm lại mình của 30 năm về trước.

Sydney 15/9/04

Nguyễn Thị Phương Dung