VĨNH BIỆT BẠN ĐỒNG MÔN

 

 

Vĩnh biệt Nhà văn LÊ XUYÊN

CHÚ TƯ CẦU

bài của

CHÂU LÊ

(Chs. Phan Thanh Giản 1960-1968)

"Chúng ta chỉ biết cúi đầu cầu nguyện cho niên trưởng chúng ta luôn khoẻ mạnh, cầu Ơn Trên ǵn giữ Ông trong những ngày tuổi già sức yếu... Ước mong trong mỗi chúng ta những đồng môn của Chú Tư Cầu luôn nghĩ đến Anh, và nếu có thể thỉnh thoảng để ra chút ít hầu tiếp tục giúp Anh sống qua ngày...".

 

Đó là những ḍng cuối cùng trong bài viết NHỚ VỀ LÊ XUYÊN - CHÚ TƯ CẦU của anh Trương Công Hạnh, bên dưới ghi "Houston, một ngày mưa băo 15 tháng 6 năm 2001” đăng trong Đặc san 7 PTG & ĐTĐ phát hành nhân đại hội lần thứ V tại Dallas Texas Hoa Kỳ năm 2001.

Ảnh

nhà văn LÊ XUYÊN

do Trương Công Hạnh chụp tháng 10/2001

Sở dĩ bài viết nầy tôi trích hết phần cuối, kể cả những ḍng ghi thêm, bởi v́... đối với tôi, nó đă trở nên cần thiết. Những t́nh cảm mà anh viết ra, hoà cùng cái không khí ảm đạm của một ngày mưa băo giữa tháng 6 tại Houston, đă giúp chúng ta h́nh dung được cái buồn thảm, tiêu điều và xót xa biết dường nào về một đồng môn thuộc thế hệ niên trưởng như Lê B́nh Tăng - Lê Xuyên - Chú Tư Cầu (College de Can Tho rồi Trung học Phan Thanh Giản các niên học 1941-1945) suốt hai mươi mấy năm qua, kể từ sau cái ngày tháng Tư/75 oan nghiệt đó. Cho nên, khi anh Hạnh đề nghị chụp ảnh lưu niệm, đồng môn vui vẻ chấp thuận, vợ anh - bà Đặng Thị Bạt muốn anh thay quần áo khác, anh đă nói: "Thay làm ǵ, áo nào th́ cũng rách như nhau vậy thôi, c̣n quần th́ dài hay ngắn cũng thế, anh em bên ngoài muốn nh́n thấy tôi thực sự nguyên vẹn như vầy thôi". Một câu nói nghe qua đơn giản, nhưng ngẫm ngợi nó đă dung chứa biết bao nhiêu lời gởi gấm tâm t́nh, biết bao nhiêu lượng thông tin cần thiết cho thấy, những văn nghệ sĩ như anh, những con người c̣n sống sót trong nước sau cái ngày sụp đổ, phải chấp nhận bao điều nghiệt ngă để giữ lại cái khí khái của kẻ sĩ, giữ lại những ǵ cần giữ lại của một con người trọng đạo lư, nghĩa nhân. Đúng như đồng môn Dương Ngọc Minh (Canada) học cùng lớp với Lê B́nh Tăng cho biết người em trai của ḿnh là một đồng môn đàn em học niên khoá 1943-1947 từ trong nước đă viết: "Anh Hai ơi, em thấy anh Tăng đúng là con chó sói của Alfred de Vigny. "La Mort du Loup". Nó cam chịu chết trong hang đá. Chết một cách im lặng”.

Tôi không có duyên may được gặp niên trưởng Lê B́nh Tăng một lần nào. Thời trước năm 1975, tôi có gặp được một số các anh làm văn nghệ báo chí như Hoài Điệp Tử, Thanh Việt Thanh, Kiên Giang Hà Huy Hà, Sơn Nam, An Khê Nguyễn Bính Thinh, Nguyễn Ngọc Mẫn, Cao Trần, Tô Thuỳ Nghiêm - Nguyễn Thiếu Nhẫn, Trần Tường Ly - Phương Linh Châu, Phan Yến Linh - Phan Trần Duyên, v.v... nhưng với Lê Xuyên th́ chưa giáp mặt. Thế nhưng, với tên tuổi của anh thời trước, với điều kiện sống của anh sau nầy đă khiến tôi khâm phục và kính trọng. Tôi vẫn thầm ao ước có dịp đến chào hỏi và thăm anh, vậy mà hoàn cảnh đă không cho phép tôi được thực hiện ao ước đó, bởi v́, theo như lần ghé thăm anh giữa tháng 10/2002 vừa qua, anh Hạnh cho biết là sức khoẻ của anh quá yếu. Hiện tại anh nằm một chỗ, không c̣n nói chuyện được nữa. Người đến thăm hỏi anh điều ǵ, anh chỉ nằm gục gặc đầu rồi đưa ánh mắt đờ đẫn qua lại, ngầm để trả lời câu hỏi mà thôi. Biết một số Giáo sư và đồng môn Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm hải ngoại có chung nhau gởi tặng một chút ít tiền lo thuốc men và tạm xây xài trong giai đoạn khó khăn nầy, anh rơm rớm nước mắt mà không thể nói nên lời, dù chỉ se sẻ thôi! Vợ anh ngồi để đầu anh kê lên bắp đùi, và bà đang cắt móng tay cho anh lúc anh Hạnh bước vào. Bà vẫn ngồi trong tư thế đó khiến cho người đến thăm chạnh ḷng trước sức khoẻ của đồng môn, mà thâm tâm anh bạn cũng chợt hiểu rằng, niên trưởng Lê B́nh Tăng chắc không thể nào kéo dài cuộc sống như chúng ta hằng mong. Chính anh cũng đă cầu mong trong đoạn cuối bài viết cách đây gần hai năm mà tôi có trích ở phần đầu bên trên. Cầu mong và ước nguyện, không phải chỉ riêng anh Hạnh, mà là của tất cả chúng ta đối với đồng môn Lê B́nh Tăng - nhà văn Lê Xuyên. Và ước nguyện sau cuối trong bài viết của anh Hạnh đă được biểu hiện.

Giáo sư Trần Đức Thắng ở Westminster California gởi Email cho tôi, nói là có gặp ông Duy Trác, và được biết ông có vận động gởi giúp một số văn nghệ sĩ c̣n lại Việt Nam đang sống đau ốm, nghèo khó, trong đó có nhà văn Lê Xuyên. Biết Lê Xuyên là một đồng môn Phan Thanh Giản, Giáo sư đề nghị tôi kêu gọi một số thầy cô và đồng môn chung góp chút ít gởi giúp Lê Xuyên. Tôi làm ngay, v́ đây là ước vọng của mỗi chúng ta. Chỉ trong chưa đầy hai tuần lễ thông báo và tổng kết, tôi đă nhận được số tiền là 565 dolllars (vận động đợt 2) và kịp gởi anh Hạnh mang về trao tặng đồng môn niên trưởng Lê B́nh Tăng - nhà văn Lê Xuyên.

Khi nhận Email báo tin sơ khởi việc quyên góp, GS Trần Đức Thắng viết "Tôi hy vọng rằng món quà nhỏ nầy sẽ mang lại cho anh Lê Xuyên và gia đ́nh của anh một niềm vui nhỏ trong những ngày thiếu vắng t́nh người ở trên chính quê hương của ḿnh...". Và trong một Email tiếp theo, GS viết "... tôi rất mừng v́ không thể ngờ được chỉ trong ṿng 10 ngày mà 17 người đă đóng góp được đến 565 dollars để gởi về cho anh Lê Xuyên và có lẽ món quà nầy sẽ mang lại cho anh Lê Xuyên thật nhiều an ủi v́ tất cả những người đă nghĩ đến anh đều là hàng đàn em không hề hân hạnh được quen biết anh ngày xưa. Tôi hy vọng rằng khi nhận được món quà nầy từ những người không quen, anh Lê Xuyên sẽ cảm thấy ấm ḷng v́ ở đâu đó thật xa quê hương vẫn c̣n có đôi chút t́nh người Việt Nam của chúng ta...".

Xuất phát từ lời gợi ư của GS Trần Đức Thắng, những tấm ḷng từ muôn hướng đă tựu về: đồng môn, BS Huỳnh Ngọc Phương từ Baton Rouge tiểu bang Louisiana là người gởi sớm nhất, tiếp theo CHS - GS và là hiệu trưởng PTG Nguyễn Trung Quân ở Santa Ana CA, GS Trần Đức Thắng và BS Phạm Văn Hoàng ở Westminster CA, rồi các đồng môn Phan Văn Tánh, Lê Ngọc Ánh, Phan Vũ Điện, Nguyễn Thăng Long, Nguyễn Hữu Hậu, Đoàn Ngọc Tấn ở Nam Bắc CA, Trần Ngọc Sơn ở Anh quốc, hai đồng môn niên trưởng Nguyễn Phước Trang - Phan Ngọc Hoa, đồng môn Vơ Lê Thơ, Lê Hoàng Viện ở Houston, đồng môn Lê Văn Giàu ở Arlington Dallas TX, đồng môn Huỳnh Ngọc Cẩn ở Seattle WA... đă kịp gởi tiền giúp Lê Xuyên. Riêng đồng môn Thảo Chi Bùi Mỹ Hoa (San Jose CA) khi được tin th́ đă trễ, v́ chuyến bay của anh Hạnh đă cất cánh. Anh Lê Ngọc Ánh có Email cảm ơn chị Thảo Chi và đành hẹn lại dịp trợ giúp sau.

Hẹn lại dịp sau, nhưng biết c̣n có dịp sau nữa hay không? V́ như anh Hạnh nghe gia đ́nh đồng môn Lê B́nh Tăng - Lê Xuyên cho biết, t́nh h́nh sức khoẻ của anh đă đến hồi nguy kịch, chưa biết anh sẽ ra đi bao giờ. Bà Bạt buồn bă nói, sẽ cố giữ số tiền nầy để lo cho anh những giây phút sau cuối, và cũng để lo tang lễ khi anh vĩnh biệt cuộc đời.

Trong một bài viết từ trong nước gởi ra năm trước, nhà văn Văn Quang, khi đề cập đến Lê Xuyên, có viết: "... cuối năm Nhâm Ngọ này, chỉ c̣n lại Lê Xuyên ở lại đón Tết Quư Mùi. Nhưng khi tôi đến thăm anh vào dịp gần đây th́ có gặp cũng như không. Anh đang nằm dài trên chiếc ghế bố kê giữa nhà, chỉ cần một động tác đứng lên, đối với anh cũng đă là khó khăn lắm rồi. Hai chân anh run bắn lên, hai cánh tay gầy khẳng khiu cố bám chặt lấy chiếc thành bàn sát ngay trước mặt, gắng sức kéo cái thân h́nh như con mắm nhích lên từng phân mà hầu như anh không làm nổi. Phải có người giúp sức cái thân h́nh c̣ hương của nhà văn Lê Xuyên mới đứng lên được. Hơi thở ph́ pḥ làm sợi râu bạc của anh bay bay muốn dựng ngược lên v́ mệt nhọc. Cũng may là anh c̣n nhận ra tôi. Tuy vậy anh cũng chẳng nói được hết một câu. Chỉ c̣n là những câu trả lời nhát gừng "nhớ, ừ... gật" và nói đó rồi quên đó. Trong đôi mắt anh, tôi nhận thấy một vẻ ǵ như sự chịu đựng cái gánh nặng của suốt một đời vất vả...”.

C̣n nước c̣n tát. Ngày nào đồng môn Lê Xuyên của chúng ta c̣n hiện diện trên cơi đời nầy th́ chúng ta vẫn cầu nguyện Ơn Trên và vẫn hy vọng được tiếp tục chung sức để anh được hưởng những phút giây sâu đậm nghĩa t́nh đồng môn chung mái trường xưa ở miền tây sông Hậu Việt Nam.

Đó là bài mà tôi đă viết hơn một năm trước, nay th́ đă có được đáp số. Trong một Email ngắn gởi đi từ Sài G̣n, nhà văn Văn Quang viết: "Nhà văn LÊ XUYÊN từ trần: Tôi vừa được gia đ́nh nhà văn LÊ XUYÊN tên thật là Lê B́nh Tăng báo tin từ trần hồi 21 giờ 20 ngày 2 tháng 3 năm 2004 tức 12 tháng 2 năm Giáp thân, tại tư gia số 523/238/146 Nguyễn Tri Phương, Quận 10, TP Sài G̣n. Xin trân trọng báo tin cùng các bạn. Tôi chưa có chi tiết ǵ mới. Tạm thời xin gửi theo tấm h́nh anh Lê Xuyên mà tôi có. Văn Quang”.

Đọc được thông tin ngắn đó, tôi chợt bàng hoàng, mặc dù lúc nào tôi cũng nơm nớp nghĩ thời điểm xấu nhất phải đến với nhà văn Lê Xuyên, bởi v́ anh bị bệnh từ lâu. Cách đây hơn ba năm tôi có đọc báo Ngày Nay số ra ngày Nov 15/2000 trích đăng trong sách của nhà văn Nguyễn Thụy Long một bài viết nói về hoàn cảnh bi đát của nhà văn Lê Xuyên, sau đó đọc bài viết của nhà văn Văn Quang "Chú Tư Cầu Ngáp Ngáp"... cho tôi biết được sức khoẻ của anh suy sụp đến mức độ nào. Tôi là một thành viên sinh hoạt trong gia đ́nh cựu học sinh Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm Cần Thơ tại Houston Texas, và anh Lê B́nh Tăng, bút danh Lê Xuyên, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1927, gốc gác người quận Trà Ôn tỉnh Cần Thơ (nay thuộc Vĩnh Long, có lúc là Trà Vinh), thế hệ chúng tôi gọi anh là niên trưởng, bởi anh đă học ở trường nầy "tṛn trịa Collégien" 4 năm (1941-1945), lúc đó trường mang tên College de Can Tho rồi đổi sang Phan Thanh Giản - chúng tôi vội phát động trong thầy cô và anh chị em đồng môn hải ngoại giúp đỡ anh. Dịp may có một đồng môn của chúng tôi tại Houston về thăm quê hai lần, ghé Sài G̣n, năm 2001 t́m giao tận tay anh và vợ là Đặng Thị Bạt số tiền 905 dollars, năm 2003, trao số tiền 565 dollars. Trong bài THĂM BẠN, VIẾNG ĐỒNG MÔN, tác giả Trương Đồng Môn viết: "Tôi không rơ ông có nhớ được ǵ không?? Đôi mắt ông nhấp nháy, môi mấp máy không ra tiếng. Nh́n h́nh ảnh đó tôi vẫn nhớ đến bây giờ. Theo lời bà Bạt cho biết th́ sức khoẻ niên trưởng đă quá suy trong mấy tuần gần đây. Hiện tại ông không tự ḿnh ngồi dậy được, mọi việc đều phải có người d́u đỡ. Ông không c̣n nói được nữa, có lẽ ông cũng hiểu rất hạn chế khi nghe ḿnh nói. Tôi hết sức xúc động trước h́nh ảnh nhà văn Lê Xuyên bây giờ thảm hại như vậy. Ngày xưa khi đọc qua các tác phẩm của ông, từ tác phẩm văn xuôi đầu tay Chú Tư Cầu (1965), đến Rặng Trâm Bầu, Vợ Thầy Hương (1965), Đêm Không Cùng (1966), Kinh Cầu Muống (1968), Vùng Băo Lửa (1969), Nguyệt Đồng Xoài (1970), quyển nào cũng ướt át và rất ư là hấp dẫn. Tôi liên tưởng đến lời nói mấy năm trước của nhà văn Văn Quang “Chú Tư Cầu ngáp ngáp”. Quả thật Chú Tư Cầu đang ngáp ngáp... v́ sự sống của ông có thể tính từng tháng mà thôi, chẳng biết lúc nào ông ra đi. Tôi không thể đứng nh́n hiện trạng của niên trưởng Lê B́nh Tăng lâu hơn được nên trao quà cho bà và nói lời từ giă ông bà. Ông nh́n tôi và h́nh như muốn nói lời ǵ đó... nhưng không nghe rơ. Bà nhét tiền vào túi áo của ông và nói các thầy cô và đồng bạn của ông gởi cho ông đó. Bà nói số tiền nầy sẽ giữ đó để lo cho ông khi cần...”. Do vậy mà trong bài "LÊ XUYÊN - CHÚ TƯ CẦU, phải chăng đây là lần giúp nhau sau cuối" ở phần cuối tôi đă viết: "C̣n nước c̣n tát. Ngày nào đồng môn Lê B́nh Tăng (Lê Xuyên) của chúng ta c̣n hiện diện trên cơi đời nầy th́ chúng ta vẫn cầu nguyện Ơn Trên và vẫn hy vọng được tiếp tục chung sức để anh được hưởng những giây phút sâu đậm nghĩa t́nh đồng môn chung mái trường xưa ở miền Tây sông Hậu Việt Nam”. Nhưng ước vọng cũng chỉ là ước vọng, v́ "sinh lăo bệnh tử là quy luật trong cuộc sống", nhà văn Lê Xuyên ra đi vào thời điểm nầy để lại cho người c̣n sống những ngậm ngùi thương tiếc, những mất mát lớn lao..., nhưng ngược lại đă giúp cho anh dứt bỏ bao nhiêu đau khổ dằn vặt bởi cơn bệnh ngặt nghèo đă hành hạ thể xác anh từ nhiều năm qua; và nhất là về mặt tinh thần, anh đă từng nói "tớ suy sụp toàn diện rồi" chứng tỏ những năm tháng qua anh đă âm thầm chiến đấu trước bao nghịch cảnh bởi cuộc đổi đời oan nghiệt. Một nhà văn tên tuổi trong làng văn làng báo mà từ sau ngày rời trại cải tạo tập trung trở về sống nghèo khổ, đi bỏ bánh kẹo, ngồi bán thuốc lá lẻ... cho măi đến khi nhắm mắt xuôi tay đă không được tiếp tục cầm viết, không được làm kiếp con tằm để nhả tơ trả nợ cuộc đời như nghiệp dĩ vương mang là một cực h́nh cay đắng vô cùng, nghiệt ngă vô cùng; cũng cho thấy khí tiết vô cùng khi biết ng̣i bút ḿnh không thể hiện được tâm nguyện mà ḿnh mơ ước. Anh mất đi là đă trút bỏ được bao điều hệ lụy đó. Cầu mong bên kia cơi đời, nhà văn Lê Xuyên sẽ được thong dong, bởi nơi đó không c̣n hận thù và ngang trái. Tôi vẫn nghĩ và cầu mong như vậy đối với nhà văn cũng là đồng môn niên trưởng của chúng tôi: Lê Xuyên - Lê B́nh Tăng.

Trước đây, trong giai phẩm Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm số IV phát hành tại San Jose mùa hè năm 1999, tác giả Dương Ngọc Minh có kể một giai thoại vui như sau: "Khi Lê Xuyên vào trường học Phan Thanh Giản, gia đ́nh anh đă ở tỉnh lỵ Cần Thơ. Gia đ́nh anh mở một cửa hàng tơ lụa vừa lớn vừa đẹp ở Bến Ninh Kiều vốn là thắng cảnh của Tây Đô. Anh có người em gái nhỏ hơn anh vài tuổi đứng bán hàng trong tiệm. Tôi thường hay ngấp nghé ngoài cửa hiệu. Không phải để ngửi mùi thơm của hàng tơ lụa ở đó, mà là "trồng cây si" em gái của anh.

- Tăng ơi!

- Ǵ đó mậy?

- Tao muốn làm em rể của mầy!

- Ai có dư em gái để gả cho mầy?

- Tao là bạn của mầy, làm em rể của mầy tốt lắm chứ!

- Mầy lấy ǵ nuôi em tao?

- Th́ tao viết văn, viết báo, làm thi sĩ.

- Thơ mầy dở ̣m, c̣n văn của mầy chỉ đủ để đi thi Diplôme.

- C̣n văn chương của mầy?

- Tao sẽ là văn sĩ trứ danh.

- Văn sĩ cái mốc x́!

Thế mà nó thành văn sĩ “thiệt”, một văn sĩ loại “lớn”, một nhà báo loại "bự".

Và anh kể tiếp: "Lê Xuyên vóc dáng trung trung, không mập không ốm, tánh t́nh hiền như "ma soeur". Anh hiền như cục đất, ít nói hay cười. Học hành th́ ai đi tới đâu anh đi tới đó. Tôi là bạn thân của anh, đă cùng anh lập một văn đoàn học sinh, tập viết văn làm thơ. Lúc bấy giờ, anh làm thơ nghe "ướt át" lắm, v́ anh đă viết 2 câu thơ như sau mà tôi c̣n nhớ:

"T́nh xưa nhắc lại đôi gịng,

Lệ trào theo mực, tơ ḷng nhuốm vương"...

Xin thắp nén tâm hương tiễn đưa nhà văn Lê Xuyên đến nơi an nghỉ cuối cùng và cũng ngậm ngùi báo với hương linh anh, từ nay tôi không c̣n hoài băo ǵ nữa để mong gặp được anh bằng xương bằng thịt, bởi v́ anh đă thong dong trong cơi vĩnh hằng, c̣n tôi th́ vẫn c̣n bươn chải trong cơi nhân sinh, cách biệt quê hương đến nửa ṿng trái đất.

Có lẽ từ nay anh được thảnh thơi

Trút bỏ sau lưng bao điều phiền lụy

Để sống lại với từng trang bi kư

Suốt cuộc đời dâng hiến cơi nhân sinh...

 

CHÂU LÊ

CHS. PTG 1960-1968

Houston Texas Hoa Kỳ