GS NGUYỄN THỊ LOAN ANH VIDMANIS

 

GỞI ĐẾN

LÊ NGỌC ÁNH,

BỨC THƯ THỨ NHÌ,

 

 

San Jose, ngày 14, 2005

Ánh ơi, em không phải là học trò Cô, nhưng em đã gọi Cô bằng Cô và đối với em, không biết sao Cô nhận sự xưng hô nầy không do dự, và bây giờ Cô còn hãnh diện nữa. Cho nên, trong thư nầy, Cô xin tiếp tục lối xưng hô cũ.

Sau mấy ngày đắn đo từ hôm em ra đi, Cô nghĩ Cô nên viết cho em những ý nghĩ riêng của Cô đối với em và sẽ gởi thơ nầy đi để được in vào Đặc San PTG/DTD Atlanta. Thường thì Cô không thích phơi bày trên giấy cho nhiều người đọc những ý nghĩ thầm kín của mình, và trong trường hợp với em, Cô nghĩ đây là những ý nghĩ Cô muốn dành riêng cho em biết thôi. Nhưng nghĩ đến Cúc, các con cháu em và anh chị của em, là những người sẽ trân quý từng giòng chữ đặc-biệt dành cho em trên Đặc San PTGDTD Atlanta, như từng kỷ niệm, Cô xin gửi đến em những giòng chữ muộn màng nầy.

Ánh ơi, có lẽ kiếp trước Cô là một người cá, Cô là mermaid đó, cho nên kiếp nầy Cô yêu thích vỏ ốc biển vô cùng, đến nổi gia-đình Cô cứ cười Cô hoài.

đi lạc đề rồi phải không?

Là người cá, nhưng Cô thích núi hơn biển. Khi Cô nói điều nầy, Thầy Lưu Khôn nói với Cô là người xưa có câu "nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy" (người nhân thích núi, người trí thích biển). Người xưa nói đúng. Nước biển chuyển động thích hợp với người có trí. Còn Cô thì trí không bao nhiêu nên có lẽ vì thế mà ng?åu nhiên, Cô thích núi hơn biển. Núi đứng sừng s?ûng, vững chắc, không thay đổi, dễ đo lường hơn lòng sâu đáy biển. Cô thấy biển chuyển động vô thường quá, nguy hiểm quá. Cô sợ biển, nhất là sau những năm em út, cháu chắc Cô bắt buộc trở thành những thuyền nhân vượt biên. Sau khi vài người bà con và bạn bè chìm sâu dưới đáy biển trong các chuyến đi tìm tự do, Cô càng ý thức rõ tính cách thay đổi bất thường và hung bạo của sóng to gió lớn và sức mạnh không lường của chất nước uyển chuyển, mềm dịu. Cô xem biển như lòng người không đáy, và xem sóng cao biển cả như nhìn tính bất trắc của con người.

Tuy vậy, gia đình Cô và Cô có khi cũng đi chơi biển vì nhiều khi biển cũng đẹp vô cùng. Người ta đi biển, thì người ta nằm trên bãi phơi nắng, ngắm thuyền buồm, thuyền máy xuyên qua vạch lại trên mặt biển, hoặc tấm tắc khen ngợi những thân người da đồng rạm nắng đang rẻ sóng trượt nước. Cô đến biển thì Cô nhìn quanh, tìm những ghềnh đá, leo lên ngồi nhìn biển mênh mông, nghĩ vơ vẩn, rồi nghĩ đến những chiếc thuyền đánh cá nhỏ nhoi, đóng bằng gỗ, mang cả trăm con chim Lạc đi tìm tự do, lênh đênh, tròng trành, mong manh như chiếc lá. Rồi không biết bao con chim Lạc chìm sâu đáy biển. Nhìn những người Mỹ giàu sang hưởng sự sống động của biển mà thương cho người chài lưới nghèo nàn bên bờ Viêt Nam. Lòng Cô buồn man mác.

Người ta đi biển để nhìn nước nhìn trời, Cô đi biển rốt cuộc lẩn quẩn đi dọc theo bờ, nhìn lên thì ít, mà cúi xuống nhìn cát thì nhiều. Cô không thể nào chống lại một ý muốn mãnh liệt, ý muốn đi tìm vỏ ốc biển trên bãi. Có lẽ lúc đó, bản tính người cá từ tiền kiếp sống dậy trong người Cô. Cô đi suốt bãi, mỗi khi cô thấy một vỏ ốc đẹp, cô mừng lắm, lượm lên, xoay nó qua lại để nhìn gần hơn. Nếu vừa ý, Cô bước ra mép nước, rửa vỏ ốc bằng nước biển mới đập tới, để xem rõ nó có đẹp thật hay không. Nếu vỏ ốc đẹp thật, Cô để nó vào lòng bàn tay, dùng những ngón tay giữ nó thật chắc, nhưng nhẹ nhàng để nó không bể, không thể rơi ra khỏi tay Cô. Cô tiếp tục đi nữa, tìm nữa. Suốt đời, Cô tìm vỏ ốc đẹp như vậy, tìm hoài. Cô kỹ lắm, chỉ chọn những vỏ ốc thật đẹp, thật vừa ý mà thôi. Cô đem những vỏ ốc đó về nhà, để một nơi riêng cho Cô. Chúng là kho tàng của Cô

Từ thuở con trẻ đến giờ, Cô cứ có thói quen đó, không bỏ được, vì Cô yêu quí rất nhiều những vỏ ốc biển đẹp. Con ốc đã chết rồi trong biển cả, hồn nó đã hòa vào tiếng vọng của ba đào, nhưng nó vẫn còn để lại cái xác, cái vỏ đẹp cho đời, cho Cô. Trên đường đời, mỗi khi Cô gặp một người tốt, Cô mừng lắm và tự dưng Cô nghĩ người ấy là một trong những vỏ ốc đẹp mà Cô tìm được trên bờ biển. Cô đã lê chân đi từ bờ biển Thái Bình Dương đến Đại Tây Dương, từ biển ấm vùng Trung Á đến biển lạnh Bắc Âu, nơi nào Cô cũng ráng hết sức tìm vỏ ốc biển đẹp, người hiền. Mỗi khi tìm được, Cô mừng lắm, quý trọng lắm và giữ hoài, không bỏ, không quên, như giữ gìn một bảo vật, vì con số vỏ ốc đẹp không nhiều. Ánh à, em nhớ bà bạn Mỹ của Cô tên Susan Ericksson không? Bà ấy là một trong những vỏ ốc biển Cô thu thập được trên những bãi biển đời Cô. Và em, Ánh ơi, em cũng là một trong những vỏ ốc đẹp mà Cô đã nhặt được, đã gói lại làm hành trang cho mình.

Em ôn hòa, nhường trên nhịn dưới, khiêm tốn, giản dị, rộng rãi về tiền bac, vị tha. Vào ngày Đai Hội PTG/DTD ở Phoenix, sau khi thấy em đứng trước hội trường kêu gọi việc lập Quỹ Cứu Trợ thầy cô, đồng môn đau ốm, nghèo khó bên Việt Nam, Cô còn thấy em can đảm nữa. Rồi về San Jose, sau khi được biết thêm rằng em đã bị khó khăn, khi em đề nghị lập Quỹ Cứu Trợ lần đầu tiên, vài năm trước, khi biết em bị đặt lên đầu cái mũ "cộng sản", Cô còn thấy em can đảm hơn.

Đã từng làm việc cộng đồng và việc xã hội, Cô hiểu những sự liều lĩnh mà em phải chuốc lấy, những thị phi mà người khởi xướng phải nhận mang. Nhưng nếu loài người không liều lĩnh, thì chắc nhân loại hãy còn sống trong hoang dại cho đến ngày nay. Nếu không có người tiền sử đầu tiên dám liều lĩnh, lần đầu ăn sống thử con sò tìm được trên bãi để tự nuôi sống mình, thì nhân loại ngày nay đã ra sao? Nếu không có những khoa học gia liều lĩnh cả gia tài, tuổi trẻ để tìm những khám phá mới, thì địa cầu có lẽ không có nền kỹû thuật tân tiến hiện nay. Nếu người dân thuộc địa Mỹ không dám liều lĩnh chống lại mẫu quốc Anh thì nước Mỹ làm sao được độc lập sớm và dân Hiệp Chúng Quốc sớm dựng nước như bây giờ? Nếu không có những ngưới Pháp và lính đồng minh liều lĩnh chống sức mạnh cuồng nhiệt, bão tố của Hitler thì còn bao nhiêu triệu người vô tội nữa phải chết oan vì bạo tàn, kỳ thị vô lý và nhân loại trên địa cầu đang sống ra sao? Nhất là, nếu không có người liều lĩnh như Hai Bà Trưng, như các bô lão có mặt tại Hội Nghị Diên Hồng thì dân ta đã mất bao nhiêu năm độc lập, tự do mà tổ tiên ta đã dùng để xây dựng đất nước, mỏ rộng cõi bờ?

Đừng lầm tưởng Cô so sánh Ánh với những vị anh hùng, vĩ nhân trên. Em là một người nhỏ so với những vị ấy. Nhưng chính những người nhỏ, những người tầm thường như em, như Cô, như chúng ta, mới là những sợi chỉ dệt nên tấm thảm lớn, tấm thảm xã hội. Chính những người nhỏ như chúng ta, nếu dám liều lĩnh, nếu nung nấu lòng yêu người, vị tha, làm tròn bổn phận và sống thiện, mới làm nên lịch sử và nối tiếp sự tồn tại của xã hội, của loài người. Những vĩ nhân là những hoa đẹp trên tấm thảm vô tận. Chính những người nhỏ như em, như những người tốt trong chúng ta mới là những sợi chỉ dệt nên tính cách vô tận ấy. Không có những sợi chỉ nhỏ nầy, thì làm sao tấm thảm thành hình, và làm sao có hoa trên thảm? Vì vậy người như em, Lê Ngọc Ánh, đã dệt và đã để lại một phần lịch sử. Ánh ơi, Cô muốn nói là em đã làm hết những điều một con người có thể làm được để cho xã hội đẹp thêm. Em đã giúp cho đời một số người em từng quen biết được nở hoa một ít, được chốc lát lên hương.

Sau khi em mất, Cô được biết thêm rằng em đã gây được một sự nghiệp đáng kể, so với người Mỹ trung bình trong thành phố điện tử vàng son nầy. Cô còn phục em hơn, vì em đã cực khổ, chịu khó làm ra tiền, nhưng em không xem đồng tiền là cứu cánh. Em đã cật lực cánh cường, làm việc khi thì như người trí thức, khi thì như kẻ lao động, để dùng đồng tiền làm phương tiện cho công việc vị tha. Em ăn ở có nhân có nghĩa, có trước có sau. Em nhận của đời và biếât trả ơn lại cho đời.

Khi Cô mới đến San Jose sinh sống, còn chân ướt chân ráo, ngoài một vài người Mỹ giúp Cô khi Cô đi lạc đường, ngoài một người Mỹ lạ giúp khi Cô "vật lộn" với một cái thùng rác khổng lồ ngoài đường, trước cửa nhà Cô, ngoài cô học trò cũ Đỗ Ngọc Huệ giúp, em là một trong hai người khác tình nguyện hỏi Cô có cần gì cứ cho biết để giúp Cô. Cô biết em thật tình khi em nói câu ấy. Dù trên phương diện vật chất, cụ thể, Cô chưa nhờ em giúp, nhưng trên phương diện tình cảm, nhân loại, em đã giúp Cô thấy rằng xã hội vinh hoa nơi Thung Lũng Hoa Vàng (1) nầy có thêm một người tốt, nhân loại có thêm một người nhân đạo. Em đã giúp Cô lạc quan hơn dù Cô có đôi mắt của người thợ vẽ thuộc trường phái Thực Thể.

đã tưởng Cô không còn nước mắt để khóc nữa, nhưng Cô khóc trước quan tài em, điều Cô rất ngạc nhiên. Cô rơi nước mắtâ, có lẽ vì thương em, mà cũng có thể vì Cô thương cho Cô, vì Cô vừa mất đi một vỏ ốc đẹp mà Cô đã giữ như của quí, vì Cô không được hưởng tình bạn của em lâu dài hơn. Cô cũng biết Cô khóc vì xã hội mất một người tốt. Có lẽ Cô khóc vì Cô thấy tạo hóa bất công, vì đời cần người như em, thì em lại đi sớm.

Nhưng Ánh ơi, em đã làm hết sức em rồi, cho đến sau khi lìa đời, em cũng còn vị tha. Bây giờ em có quyền đi đến cõi vĩnh hằng để được tiêu diêu an lạc. Em đã để lại một gương lành, một di tặng, một đoản sử tốt (legacy) cho gia đình PTG/DTD. Khi sống, em đã giúp một số ngưới chung quanh em đở khổ hơn. Trong cái chết, với tinh thần vị tha, thực tế, không xa xí, em cũng đã tìm cách để lại một số tiền khá to ($15,000 Mỹ kim), to đối với cái Quỹ Cứu Trợ nghèo nàn của mình. Hơi thở cuối cùng của em là bước đầu để giúp những thầy cô đồng môn yếu đau nghèo khó trong gia đình PTG/DTD bên Việt Nam. Cô tin rằng những trang sử của Quỹ Cứu Trợ nầy sẽ đươc nối tiếp và sẽ vững chắc, vật di tặng em để lại sẽ được bạn bè nối tiếp. Em có thấy không, cái chấm dứt cũng là sự khởi đầu. Ngọn nến đã tắt, nhưng sức ấm, sinh khí của nến còn dài (2)

Cô dừng đây và Cô cảm ơn Trời đã cho Cô có dịp biết em. Cô biết em đã đến một thế giới hoàn hảo hơn. Cô cũng tin rằng nhờ công đức của em, vợ con, gia đình em cũng sẽ được thương yêu và được Trời Phật chở che.

Cô,

Loan Anh Vidmanis

_____

(1) Tên người Việt Nam tặng cho thành phố San José, tiểu bang California, Hoa Kỳ

(2) Lời thiền sư Thích Nhất Hạnh

(Trích Đặc san 10 PTG & ĐTĐ Cần Thơ phát hành nhân đại hội lần thứ IX-2005 tại Atlanta GA Hoa Kỳ)