MỘT NÉN HƯƠNG

CHO

LÊ NGỌC ÁNH

Trần Đức Thắng

Cựu Giáo Sư T.H. Phan Thanh Giản

 

Tôi về dạy ở trường Phan Thanh Giản đầu niên khóa 1958 rồi rời khỏi trường vào khoảng đầu năm 1963. Ngày từ giã trường Phan Thanh Giản, tôi ra đi để lại sau lưng năm năm trời thật nhiều kỷ niệm vui buồn, những bạn bè, những người quen biết và nhất là những em cựu học sinh mà tôi vô cùng thương mến.

Tôi cứ tưởng rằng kể từ ngày đó, tôi không còn có duyên nợ gì với Tây Đô, với trường Phan Thanh Giản vì cho đến mấy chục năm sau ngày rời khỏi Cần Thơ bước vào một cuộc đời mới với nhiều gian truân và thử thách hơn là những ngày dạy học, ngoại trừ có hai người học trò cũ, tôi không hề được gặp lại một cựu học sinh nào khác của tôi cả.

Cách đây chừng 7 hay 8 năm gì đó, một hôm tôi nhấc điện thoại thì người từ đầu dây bên kia hỏi: "Thưa thầy, có phải là thầy Thắng dạy ở trường Phan Thanh Giản hồi xưa không?". Đó là Lê Hoàng Viện. Sở dĩ Viện biết được số điện thoại của tôi là nhờ một người bạn cũ của tôi hồi còn ở trong quân đội là Đại Tá Huỳnh Vĩnh Lại, lúc đó đang làm Trưởng nhóm Cựu Học Sinh PTG - ĐTĐ tại Houston.

Tôi còn có một kỷ niệm khác với Lê Hoàng Viện và Viện là người cựu học sinh đầu tiên mà tôi gặp lại sau khi rời khỏi trường Phan Thanh Giản. Gần 40 năm về trước, vào khoảng năm 1971 hay 1972 gì đó, tôi đang đi xe Honda trên đường Trương Minh Giảng thì nghe có một người ngồi trên xe Lam gọi tên tôi. Tôi nhìn lên xe thì thấy một anh chàng nhà binh nhìn tôi: "Em là Lê Hoàng Viện đây thầy! Thầy bây giờ đang phục vụ ở đâu?" Tôi cho Viện biết là đang dạy ở Trường Sinh Ngữ Quân Đội trong Bộ Tổng Tham Mưu và Viện thì cho tôi biết là đang phục vụ ở Cần Thơ và đang về Sài Gòn hội họp gì đó... Cuộc gặp gỡ tình cờ, người thì ngồi trên xe Lam, người thì chạy xe Honda nói chuyện được với nhau có vài ba câu, chừng đôi ba phút và ngắn ngủi chỉ có vậy thôi, nhưng mấy chục năm sau khi gặp Đại Tá Huỳnh Vĩnh Lại, có lẽ Viện nhớ lại là tôi có một thời xa xưa phục vụ ở đơn vị này và sau ngày tôi ra đi thì Đại Tá Huỳnh Vĩnh Lại về làm chỉ huy trưởng Trường Sinh Ngữ Quân Đội và nhờ đó Viện mới hỏi thăm và liên lạc được với tôi.

Người cựu học sinh thứ hai mà tôi được gặp lại là Phạm Hoàng Thúc. Dạo đó vào khoảng cuối thập niên 1960, tôi phục vụ ở một cơ quan nằm trên đường Hồng Thập Tự, cạnh Việt Tấn Xã và tôi vẫn thường sang câu lạc bộ của Việt Tấn Xã ăn sáng, ăn trưa... Một hôm có một anh chàng phóng viên của Việt Tấn Xã đến chào và tôi nhận ra ngay đó là Phạm Hoàng Thúc vì trong đám học sinh của tôi hồi dạy ở Phan Thanh Giản, dường như chỉ có cái anh chàng Thúc này là dân Bắc Kỳ di cư mà thôi. Một phần vì tôi cũng có liên hệ với ngành báo chí, một phần nữa là sau này vợ chồng Phạm Hoàng Thúc trở thành chủ nhân của câu lạc bộ Việt Tấn Xã cho nên tôi gặp Thúc thường xuyên và trở thành thân thiết cho đến năm 1975.

Ngoài hai anh này, dường như tôi không hề được gặp lại một người nào khác, cho đến ít lâu sau lần Lê Hoàng Viện gọi điện thoại thăm tôi thì một hôm khi tôi vừa mới ở vùng San Francisco trở về thì có một message trong máy answering: "thưa thầy, em là Lê Ngọc Ánh, học trò cũ của thầy hồi cuối thập niên 1950 ở trường Phan Thanh Giản...". Ánh có được điện thoại của tôi nhờ Lê Hoàng Viện và nhờ Lê Ngọc Ánh mà tôi được có cơ hội gặp lại rất nhiều các anh chị cựu học sinh Phan Thanh Giản ngày xưa sau hơn 40 năm rời khỏi Cần Thơ.

Sau lần tiếp xúc đó, khi tôi có dịp lên San Jose thì Lê Ngọc Ánh và các anh Hồ Quang Đảnh, Châu Minh Hoàng, Nguyễn Văn Liêm, Nguyễn Thành Long, Võ Văn Ơn, Đỗ Quang Sáng, Bùi Tuyết Sơn, Phạm Hoàng Thúc, Đoàn Ngọc Tấn, Lâm Văn Yến v.v. cùng rất nhiều anh khác đã tổ chức một buổi tiệc hội ngộ vô cùng cảm động. Mối chân tình mà các anh chị ở San Jose và Lê Ngọc Ánh dành cho tôi hôm đó đã khiến cho tôi vô cùng xúc động và có lẽ cho đến suốt đời vẫn không bao giờ có thể quên được.

Ngày xưa, thời còn dạy học ở trường Phan Thanh Giản, tôi chỉ biết và cố gắng làm tròn bổn phận của một người dạy học, đôi khi rất nghiêm khắc đối với học trò và cho đến ngày rời khỏi nhà trường, tôi vẫn nghĩ rằng một số học sinh đã không có cảm tình với tôi và mối liên hệ giữa một người thầy học như tôi hồi đó với những người học trò cũ của mình thì cũng như ngày tháng trôi qua, rồi cũng mỗi ngày một nhạt phai. Trong mấy chục năm không hề gặp lại học trò cũ khiến cho tôi gần như quên đi là chính tôi cũng đã có một thời làm nghề dạy học và do đó mà có nhiều người quen biết tôi sau này, ngay cả những cựu học sinh trường Phan Thanh Giản, rất có ít ai biết rằng tôi từng dạy học tại ngôi trường ở tận xứ Cần Thơ thật là xa xôi đó...

Sự đón tiếp thật là nồng hậu, thật là đầy chân tình và nhất là những cảm tình sâu đậm mà các anh cựu học sinh đã dành cho tôi gần 40 năm sau trên nước Mỹ đã khiến cho tôi vô cùng xúc động và ân hận đã có quan niệm không đúng về tình cảm mà các cựu học sinh của tôi đã dành cho tôi. Thật ra thì tôi nghĩ sai nhiều lắm vì tuy rằng không gặp lại nhưng có nhiều người học sinh cũ của tôi vẫn còn nghĩ đến tôi như Lê Nguyễn Thiện Ngôn đã viết cho tôi cách đây mấy năm: "Nếu bây giờ em có nói hay nghĩ gì về thầy cũng chỉ là tưởng tượng mà thôi vì thời gian cách biệt quá xa xôi, nhưng xin thầy nhận ở đây lòng thân yêu và kính mến không quên từ trong tâm tư, kỷ niệm kéo dài từ thuở niên thiếu cho đến bây giờ...".

Cũng như Lê Nguyễn Thiện Ngôn, một trong những người cựu học sinh khác cũng đã dành cho tôi thật nhiều cảm tình, đó là anh Lê Ngọc Ánh.

Lê Ngọc Ánh vào học lớp đệ Thất hồi năm 1958, khi đó tôi cũng vừa mới về dạy ở trường Trung Học Phan Thanh Giản. Tôi còn nhớ Ánh vì Ánh là một trong những học sinh rất giỏi và tuy cùng tuổi tác với các bạn bè nhưng Ánh có vẻ trưởng thành chín chắn hơn những người khác. Trong lớp, tôi không hề thấy Ánh tỏ ra xao nhãng trong việc học, trái lại bao giờ cũng chăm chú lắng nghe và ghi chép kỹ những điều thầy giảng, dường như Ánh không muốn để mất đi một giây phút nào trong lớp học. Một điểm đặc biệt là cá tính của Ánh, tuy còn nhỏ tuổi nhưng bao giờ trên môi cũng nở nụ cười do đó mà được cảm tình không những của bạn bè mà ngay cả các vị giáo sư của Ánh. Tôi có thăm hỏi với một vài vị giám thị và bạn bè của Ánh thì được biết là Ánh con nhà rất nghèo, gia đình ở tận dưới "quê" và đang được hưởng học bổng của chính phủ. Tôi càng chú ý đến Ánh nhiều hơn và thường khuyến khích Ánh nên theo đuổi sự học vì chỉ có sự học là con đường duy nhất để cho ta tiến thân, thoát được cảnh nghèo và có thể giúp cho gia đình cũng như là xã hội.

Bốn năm sau, khi các bạn cùng lớp của Ánh vào lớp đệ Tứ, tôi không thấy Ánh đâu và sau khi dọ hỏi thì được biết Ánh đã thi nhảy lấy bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp vào mùa hè năm trước rồi đã thi đậu vào trường Sư Phạm Vĩnh Long. Tôi hơi buồn nghe tin Ánh đã bỏ học quá sớm vì tôi mong ước những người như Ánh phải được học cho đến nơi đến chốn, tuy nhiên tôi cũng mừng là Ánh đã tìm được cơ hội để giúp đỡ cho gia đình. Ít lâu sau ngày Lê Ngọc Ánh vào trường Sư Phạm Vĩnh Long rồi về dạy học ở Chương Thiện thì tôi cũng rời trường Phan Thanh Giản lên đường nhập ngũ và rồi cũng không còn liên lạc gì được với các cựu học sinh của tôi.

Sau lần gặp gỡ các anh cựu học sinh của tôi tại San Jose thì đến phiên Hội Cựu Học Sinh PTG-ĐTĐ Bắc California nhận lãnh nhiệm vụ tổ chức Đại Hội Kỳ III và họ đã mời tôi tham dự một vài phiên họp của họ, do đó tôi có cơ hội gặp gỡ các anh nhiều hơn. Lần nào tôi lên San Jose, bao giờ các anh cũng đều thay phiên nhau mời tôi về ở nhà họ, riêng vợ chồng Lê Ngọc Ánh thì bao giờ cũng khẩn khoản mời tôi về nhà của anh chị, tuy nhiên tôi phải chiều lòng tất cả mọi người cho nên khi thì ở nhà người này, mai thì ở nhà người khác.

Có một dạo tôi có một vài công việc nên lên ở San Jose trong vài tháng, Ánh năn nỉ mời tôi về ở với vợ chồng Ánh, tuy vô cùng cảm kích nhưng tôi từ chối và sống ở một nơi không xa nhà Ánh bao nhiêu. Dạo đó Ánh cũng mới bị layoff cho nên có thì giờ rảnh rỗi và gần như ngày nào Ánh cũng đến đưa tôi đi ăn trưa, ăn tối... Đó là cơ hội mà Ánh và tôi được gần gũi nhau nhiều và tôi cũng được nghe Ánh kể lại về cuộc đời tuy có thành công nhưng cũng đầy gian truân vất vả của Ánh.

Ánh cho tôi biết sau khi tốt nghiệp sư phạm Vĩnh Long, Ánh được bổ nhiệm về dạy ở một trường tiểu học tận dưới Chương Thiện khi mới chưa tròn mười tám tuổi. Nếu như là một người nào khác thì họ đã "an phận thủ thường", tự mãn nguyện với công việc nhà giáo vốn được rất nhiều sự yêu mến và quý trọng của người dân quê miền Nam rồi thì lập gia đình, sống cuộc đời bình lặng của một "ông giáo làng" như bao nhiêu người cùng cảnh ngộ, tuy nhiên Lê Ngọc Ánh lại là người có nhiều ý chí, có nhiều ước vọng cho nên ngoài việc dạy học, Ánh đã tự học rồi đậu được cả hai bằng Tú Tài I và II. Sau đó còn tiến xa hơn nữa, Ánh đã ghi danh theo học tại trường Đại Học Cần Thơ và đậu được bằng cử nhân rồi làm giáo sư trung học.

Sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968, ông giáo sư Lê Ngọc Ánh bị động viên vào quân đội và trở thành chuẩn úy. Dường như Ánh có duyên với tỉnh Chương Thiện do đó mà sau khi ra trường Thủ Đức, Ánh được thuyên chuyển về một trung đoàn thuộc Sư Đoàn 21 đang trú đóng trong tỉnh này. Sau này Lê Ngọc Ánh có viết một bài tên là "Quê Tôi Cũng Là Chương Thiện" đăng trong Giai Phẩm PTG-ĐTĐ IV tại San Jose năm 1999 và trong bài này Ánh cho biết rằng Ánh đã dạy học 5 năm và phục vụ hai năm nữa trong quân đội ở tỉnh Chương Thiện. Sau mấy năm phục vụ trong quân đội, Ánh được biệt phái trở lại ngành giáo dục và về dạy học ở Cần Thơ cho đến tháng 4 năm 1975.

Sau ngày 30 tháng 4, cũng như bao nhiêu người miền Nam khác, Ánh bị đi tù "cải tạo" và sau ngày được trả lại tự do thì gia đình tan nát, không nhà cửa, không tiền bạc, không nghề nghiệp, không kế sinh nhai, Ánh đã được một người dưng không hề quen biết giúp đỡ cho tạm trú trong nhà. Ánh không bao giờ quên được cái ơn to lớn đó và khi vượt biên đi tìm tự do, Ánh đã mang theo người con trai nhỏ của ân nhân đi theo. Sau này chính Ánh đã lo lắng và giúp đỡ cho người này ăn học và đứng làm chủ hôn cho khi ta anh lập gia đình.

Lê Ngọc Ánh là người có khả năng chỉ huy và lãnh đạo. Một trong những người học trò của Ánh theo anh trong chuyến vượt biên vô cùng gian nan nguy hiểm hồi đầu thập niên 1980 đã kể lại rằng chừng hai ngày sau khi rời Việt Nam, con tàu của Ánh bị hải tặc cướp sạch, sau đó thì tàu bị chết máy không còn chạy được nữa. Trong khi tất cả mọi người kể cả trai tráng trên tàu chỉ biết than khóc phó thác cho định mệnh thì Lê Ngọc Ánh một mình lấy tấm bạt che máy buộc dây làm một cánh buồm, đồng thời Ánh cũng kiếm được một chiếc dầm và một mình chèo con tàu đi về hướng Tây tức là hướng Thái Lan. Các thanh niên trên tàu thấy Ánh một mình chèo chống con tàu suốt ngày thì cũng cảm thấy ngượng cho nên sau đó đã tình nguyện thay nhau chèo cho đến khi gặp được một chiếc tàu đánh cá Thái Lan. Nhờ Lê Ngọc Ánh nói được tiếng Anh nên anh đã liên lạc và thương thuyết với đám người này, nhờ đó mà họ đã đồng ý dùng dây kéo con tàu vượt biên cho đến khi gần tời bờ biển Thái Lan rồi mới thả ra. Cảnh sát Thái Lan sau đó lại đuổi con tàu ra khơi trở lại nhưng cũng nhờ tài thuyết phục của Lê Ngọc Ánh mà sau cùng thì chính quyền Thái Lan cũng chấp thuận cho cả con tàu tỵ nạn được vào bờ. Trong thời gian sống tại trại tỵ nạn ở Thái Lan, Lê Ngọc Ánh đã tình nguyện dạy tiếng Anh cũng như là tham gia vào các công tác xã hội khác nhằm giúp đỡ cho đồng bào tỵ nạn.

Sau khi sang định cư tại Hoa Kỳ, mặc dù được giới thiệu đi làm việc ngay nhưng Ánh từ chối và xin ghi danh theo học về điện tử tại De Anza College ở San Jose. Trong thời gian còn theo học ở đây, Ánh cũng đã giúp đỡ cho nhiều người mới sang định cư có được nơi ăn chốn ở cũng như là việc học hành và công ăn việc làm trong lúc ban đầu. Sau khi ra trường và đã có công ăn việc làm, không những vẫn còn tiếp tục mà Ánh lại còn dành thêm nhiều thì giờ và phương tiện để giúp đỡ cho những người đồng hương cần sự giúp đỡ. Trong tang lễ của Ánh, con trai út của anh là Lê Ngọc Văn Lang còn đang học trung học, đã nói rằng "...cha tôi yêu thích làm việc thiện, yêu thích giúp đỡ cho người, bởi thế mà trong nhà tôi, ngày nào tôi cũng đều gặp gỡ toàn là những người xa lạ...".

Không những đối với người đồng hương mà ngay cả đối với người Mỹ, Lê Ngọc Ánh cũng mở rộng trái tim mang đến tình thương, sự săn sóc và giúp đỡ cho người khốn khổ tật nguyền. Khi còn theo học ở De Anza College, đọc báo thấy có một cái quảng cáo cần người săn sóc cho một người bị bán thân bất toại, Ánh đã đến xin nhận công việc này. Khi thấy người tàn tật này cần phải được săn sóc 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày mà những người Mỹ làm việc này thì chỉ làm qua loa không mấy tận tâm, Ánh đã đi tìm những người Việt Nam giới thiệu và huấn luyện cho họ làm công việc này và nhờ có sự chăm nom săn sóc tận tình hơn đó mà người tàn tật này cảm thấy thoải mái hạnh phúc hơn nhiều.

Người tàn tật đó tên là Tom, một kỹ sư của hãng điện tử Hewlett-Packard đã bị bán thân bất toại vì một tai nạn. Cảm ơn tri ngộ đó, Tom đã xem vợ chồng Ánh như anh chị và các con của Ánh như cháu của anh và dù rằng đã có nhà riêng nhưng vì Tom muốn được sống gần gũi hơn với gia đình Ánh cho nên khi Tom đề nghị với vợ chồng Ánh cùng đứng tên mua một căn nhà để ở chung thì Ánh nhận lời. Chị Lý Thu Cúc, vợ của Ánh, cho biết rằng nhiều lần Tom nói rằng trong đời anh ta, chỉ có một người con gái thương yêu anh, đó là Lily, con của Ánh lúc đó mới có mấy tuổi, vì mỗi khi Tom đi làm về bao giờ Lily cũng đứng chờ để chào đón "Uncle Tom". Chị Cúc cho biết rằng Lily và Văn Lang đã viết nhiều bài luận văn (essays) về Uncle Tom và đã được nhà trường khen thưởng và đọc cho cả trường nghe. Chẳng may một hôm khi qua đường bằng xe lăn, Tom bị tử nạn vì bị xe đụng. Hai vợ chồng Ánh đã đích thân đưa thi hài của Tom về cho gia đình của anh tại tiểu bang Ohio và cho đến nay, trong nhà của Ánh vẫn còn có bàn thờ của Tom như là một người thân thích trong gia đình.

Lê Ngọc Ánh là một con người đầy thiện tâm, đầy lòng nhân ái, không những giúp đỡ cho những người ở chung quanh, anh lại còn đặt tình thương yêu người về tận quê hương vẫn còn nghèo khổ bên giòng ông Hậu. Ngoài những sự giúp đỡ dành cho những người trong gia đình, mỗi khi nghe tin các vị thầy cô, các bạn học cũ gặp cảnh khó khăn, ngặt nghèo, bao giờ Ánh cũng gởi tiền về nhờ bạn bè bên đó lo liệu giúp đỡ cho họ.

Ánh có hỏi ý kiến tôi về việc có nên và có cần giúp đỡ cho những người đang bị khốn khổ ở quê nhà hay không thì tôi cho biết rằng quan niệm của tôi là những kẻ may mắn được sống tự do ở nước ngoài không những có bổn phận mà còn phải có nghĩa vụ giúp đỡ cho thân nhân, bà con, bạn bè... còn bị kẹt lại ở bên nhà. Riêng cá nhân tôi và một số bạn bè vẫn thường đóng góp người nhiều kẻ ít để gửi về giúp đỡ cho một số bạn bè trong khi họ còn bị tù trong các trại tù cải tạo. Có một lần có một bà vợ của một anh bạn đang bị tù cải tạo ở tận Hoàng Liên Sơn viết thư sang yêu cầu chúng tôi phải lấy tên của một người bà con cùng họ với bà khi gửi quà về cho bà vì công an khu vực ở Sài Gòn đến hỏi bà theo lý lịch thì vợ chồng bà không có ai đang sống ở Mỹ mà vẫn nhận được quà, vậy thì quà đó là của ai gửi?. Khi bà trả lời rằng đó là quà của bạn bè của chồng bà gửi về biếu cho chồng bà đang bị tù thì bọn công an nói rằng "làm gì mà lại có thứ bạn bè tốt như vậy, chắc là chồng của chị làm ... CIA cho nên bọn chúng nó gửi quà về cho đấy thôi". Do đó mà chúng tôi phải dùng tên của người đó mỗi khi gửi quà và cũng nhờ đó mà gia đình của những người bạn dù rằng chẳng làm được việc gì để kiếm ra tiền nhưng vẫn có thể thăm nuôi được những người đang bị tù...

Khi Ánh nghe được quan niệm của tôi như vậy thì Ánh cho tôi biết rằng Ánh đã âm thầm một mình làm việc đó trong bao nhiêu năm qua, tuy nhiên cách đây chừng mấy năm, khi Ánh có ý định mở rộng để cho những cựu học sinh Phan Thanh Giản - Đoàn Thị Điểm, những kẻ còn có lòng nghĩ đến thầy cô và đồng môn cũ đang gặp khó khăn ở quê nhà cùng được tham gia vào việc từ thiện này, thì bất hạnh thay, Ánh đã gặp phải sự chống đối rất mạnh từ nhiều phía và lại còn bị chụp mũ là "thân Cộng" dù rằng những người được Ánh tìm cách giúp đỡ chỉ là các cựu giáo sư và các cựu học sinh hai trường Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm ở Cần Thơ dưới thời Việt Nam Cộng Hòa chứ họ không phải là Cộng sản. Lê Ngọc Ánh âm thầm chịu đựng và cho đến ngày Đại Hội Phan Thanh Giản - Đoàn Thị Điểm vừa qua hồi tháng 9 năm 2004 tại Phoenix, tiểu bang Arizona thì Ánh đã ra trước đại hội đề nghị lập một "Quỹ Tương Trợ Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm" nhằm vào mục đích giúp đỡ cho các cựu giáo chức, nhân viên và cựu học sinh hai trường Phan Thanh Giản cùng Đoàn Thị Điểm tại quê nhà. Đề nghị này đã được rất nhiều cựu học sinh PTG - ĐTĐ ủng hộ và họ đã quyên góp cho quỹ một số tiền đáng kể ngay trong đại hội. Chính tôi là một trong những người đầu tiên đóng góp vào quỹ đó dù rằng tôi không còn có biết ai sau khi rời Cần Thơ cách nay đã gần nửa thế kỷ.

Lúc đó tại Đại Hội Phoenix, tất cả mọi người cũng như là bản thân của Ánh, không ai có thể ngờ được rằng chỉ không đầy 8 tháng sau, vào ngày 4 tháng 4 năm 2005, Lê Ngọc Ánh đã từ giã cõi đời vì bệnh ung thư máu. Tuy nhiên, Quỹ Tương Trợ PTG-ĐTĐ, một trong những ước nguyện của Ánh đã được thành hình, lúc đó mới quyên góp được vài ngàn mỹ kim nhưng sau khi Ánh từ trần thì để đáp lại lời kêu gọi của Ánh, quỹ này hiện nay đã lên tới gần vài chục ngàn mỹ kim.

Ở một nơi nào đó, có lẽ Ánh cũng sẽ lấy làm mãn nguyện vì thiện ý của anh không những đã được nhiều người ủng hộ khi còn sinh tiền mà lại còn được ủng hộ nhiều hơn ngay cả sau ngày anh từ giã cõi đời.

Lê Ngọc Ánh xả thân giúp đỡ cho người, từ nơi quê hương, từ trên con tàu vượt biên, từ trại tỵ nạn, từ những ngày mới định cư trên nước Mỹ, giúp đỡ cho bà con thân nhân, cho bạn bè, cho người xa lạ, cho cả người Mỹ tật nguyền, cho tất cả mọi người gần xa và ngay cả chính tôi, một người thầy học cũ xa cách hơn 40 năm cũng còn được giúp đỡ và phải mang ơn Lê Ngọc Ánh.

Trong thời gian vài tháng sống ở San Jose, tôi có cơ hội được gặp Lê Ngọc Ánh gần như là hàng ngày. Trong những bữa ăn trưa, ăn tối, trong những cuộc trò chuyện, Ánh thường hỏi tôi về rất nhiều chuyện, nhất là những chuyện về quê hương đất nước ngày xưa. Mang tâm trạng của một kẻ chiến bại, bị tù đày, bị mất mát quá nhiều, mất quê hương, mất gia đình, mất nghề nghiệp, mất gần cả cuộc đời..., Lê Ngọc Ánh luôn luôn ray rứt khắc khoải vì những cái "tại sao mà ra nông nỗi" như vậy. Gặp lại người thầy cũ ngày xưa cũng có đôi chút hiểu biết về một vài chuyện xưa tích cũ, Ánh được cơ hội nói hết những gì muốn nói và tôi thì lắng tai nghe, lâu lâu cũng đưa ra được một vài sự giải thích làm cho Ánh cũng tạm bớt được phần nào thắc mắc. Những buổi nói chuyện giữa Ánh và tôi ở San Jose hồi đó đã khiến cho tôi hiểu nhiều về Ánh hơn và chúng tôi cũng thân thiết nhiều hơn.

Không hiểu nghe ai nói rằng tôi ngày xưa cũng có một thời viết lách, một thời làm báo mà có lần Ánh yêu cầu tôi viết trở lại. Tôi nói với Ánh rằng từ ngày sang Mỹ đến nay đã hơn một phần tư thế kỷ rồi mà tôi chưa hề cầm lại cây viết, tôi nói với Ánh rằng ngày nay tôi chỉ sống cam phận làm một người "sống tạm ở nhờ" chờ ngày mai một với cỏ cây ở cái xứ người chứ không còn thiết tha gì nữa mà viết với lách. Gần như lần nào Ánh cũng năn nỉ, cũng hối thúc tôi viết lại những gì tôi đã nói với Ánh nhưng tôi vẫn không đồng ý.

Ánh cứ nói mãi rồi cuối cùng thì tôi cũng đành phải nhượng bộ. Tôi hứa với Ánh là khi nào rảnh rỗi thì tôi sẽ viết, nhưng mà hẹn thì hẹn vậy thôi chứ tôi cũng chưa hề cầm lại cây bút.

Một thời gian sau, Ánh hỏi tôi đã bắt đầu viết hay chưa và viết bằng cái gì thì tôi nói rằng tôi đang dùng một cái máy chữ. Ánh cười xòa rồi hỏi tôi: "Trời đất, giờ này mà thầy còn xài máy đánh chữ! Sao thầy không xài computer?". Tôi nói với Ánh rằng tôi ghét nhất là cái máy computer, nhất là cái máy mà tôi phải sử dụng ở sở làm, và thứ hai là máy điện thoại... Lúc bấy giờ là gần đến năm 2000, Ánh nói với tôi rằng "sắp sửa bước qua thế kỷ thứ 21 rồi thì thầy cũng nên "chịu khó khép mình" mà sống trong vòng cương tỏa của kỹ thuật vì những người đang sống ở Mỹ thì dù muốn dù không đều cũng phải bị ảnh hưởng của kỹ thuật...". Ánh giải thích thêm là riêng trong phạm vi viết lách thì computer tiện lợi hơn máy chữ rất nhiều... Nghe cũng bùi tai tôi nói với Ánh là khi nào thấy có ai bán một cái máy cũ thì mua giùm cho tôi một cái, một cái máy thật rẻ tiền vì tôi chỉ cần dùng làm máy đánh chữ mà thôi.

Ít lâu sau đó, Ánh báo cho tôi biết rằng đã kiếm mua được một cái laptop cũ trên internet, Ánh đã install các loại chữ Việt như VPS và VNI để cho tôi đánh tiếng Việt. Ánh hỏi tôi có xài e-mail không thì tôi trả lời rằng tôi không ưa e-mail, ở sở nhiều khi người ta phải gọi cho tôi để delete bớt đi vì nhiều khi cả tháng trời tôi không hề mở ra cho nên nó đầy nhóc. Ánh lại khuyên tôi nên xài e-mail và cái địa chỉ e-mail tôi đang dùng hiện nay là do Ánh đã làm cho tôi từ năm 1999.

Khi nhận máy, tôi hỏi Ánh mua hết bao nhiêu tiền để tôi trả lại thì Ánh nói rằng cái máy này đã cũ lắm cho nên người ta bán rất rẻ, chỉ chừng vài trăm bạc thôi và vợ chồng Ánh xin tặng cho tôi dùng làm phương tiện để viết lách. Tôi không muốn nhận nhưng vợ chồng Ánh nài nỉ và vì nể Cúc, vợ Ánh, mà sau cùng tôi đành phải nhận cái máy laptop đó.

Với cái máy này tôi bắt đầu viết và khi đọc được bài "Phan Thanh Giản: Một Thời Kỷ Niệm" của tôi đăng trên Đặc san PTG-ĐTĐ 2000, Ánh rất mừng. Nhờ sự thúc đẩy của Ánh mà sau đó tôi đã viết rất nhiều bài đăng trong các đặc san PTG-ĐTĐ ở Hoa Kỳ cũng như là Úc Châu và Bản Tin Trường Xưa của Gia Đình PTG-ĐTĐ ở Houston. Có thể nói là nếu không có Lê Ngọc Ánh thì tôi đã không có được cơ hội và phương tiện để viết bài cho các đặc san, giai phẩm của gia đình Phan Thanh Giản-Đoàn Thị Điểm trong mấy năm nay.

Cái máy laptop cũ của vợ chồng Lê Ngọc Ánh tặng cho tôi vào khoảng một năm sau thì bị "liệt" vì bị mất luôn power. Tôi mua một cái desktop và sau đó, có lần Lê Ngọc Ánh xuống thăm thì mang cho tôi một cái monitor lớn bằng cái TV. Ánh nói với tôi rằng "thầy nay đã già rồi thì mắt kém mà cái monitor của thầy chỉ có 17 inches thôi, bởi vậy em kiếm cho thầy cái monitor Sony này lớn tới 21 inches để thầy đọc cho rõ, không hại mắt...". Cái monitor đó hiện tôi vẫn còn sử dụng và luôn luôn ghi nhớ đến sự săn sóc và lo lắng mà Ánh đã dành cho tôi.

Vào khoảng trước ngày Đại Hội PTG-ĐTĐ tại Phoenix năm ngoái, một cựu học sinh PTG hỏi tôi cuốn sách tôi đã viết đến đâu rồi, chừng nào thì cho xuất bản? Tôi cười cười nói rằng chắc cũng còn lâu lắm vì tôi đang dùng desktop đặt trên bàn viết mà mùa hè thì lại thích ra ngoài patio ngồi hóng mát, ngắm cá Koi..., mùa đông thì thằng con nhỏ... 4 chân lại cứ bắt tôi phải lên giường sớm để nó đi ngủ, bởi vậy cho nên tôi không có nhiều thì giờ để viết. Người cựu học sinh này vì muốn tôi sớm hoàn thành cuốn sách nên đã thuyết phục tôi nên dùng laptop thay vì desktop vì nếu có laptop thì ra ngoài patio hay nằm trên giường tôi đều có thể viết được cả. Khi nghe nói đến những sự tiện lợi của laptop loại mới thì tôi cũng thích lắm, tuy nhiên bây giờ thì tôi đã về hưu trí cho nên tài chánh cũng không dư dả gì cho lắm, lại cũng chẳng có nhu cầu gì cấp bách cho nên khoái thì có khoái nhưng tôi cũng không tha thiết gì cho lắm.

Ít lâu sau đó thì Ánh gởi e-mail nói với tôi rằng nhân ngày sinh nhật của tôi, một số cựu học sinh của tôi đã mua một món quà nhỏ làm quà sinh nhật tặng cho tôi. Đó là một cái laptop loại mới nhất và Ánh đã install tất cả mọi software cần thiết để cho tôi sử dụng trong việc viết lách.

Tôi rất cảm động nhưng tôi nói với Ánh và nhờ Ánh nhắn lại với tất cả các anh là tôi rất cám ơn và ghi nhận thịnh tình và lòng tốt của các anh nhưng tôi xin từ chối không nhận món quà quý giá đó vì đó là một sự xa xỉ không cần thiết, chỉ xin tâm lãnh mà thôi. Tuy nhiên tôi biết rằng Lê Ngọc Ánh và người cựu học sinh Phan Thanh Giản kia là hai người đã "chủ mưu" chuyện này và tôi đã giận cả hai người, không hề liên lạc thăm hỏi gì trong suốt mấy tháng trời. Sau đó Ánh đã gửi cho tôi một lá thư có ghi đề mục "xin tạ lỗi với thầy". Tạ lỗi vì có lòng tặng quà cho thầy mà bị thầy giận thì chuyện đó, ngay cả bà xã của tôi khi nghe được cũng phải phê bình: "học trò cũ còn nhớ đến thầy mà tặng quà là một điều vô cùng đáng quý, không nhận thì thôi chứ việc gì mà lại giận người ta? Ông thầy này quả thật là một "ông đồ gàn"!

Cuối mùa đông năm ngoái, tôi được mời làm một công việc tương đối nhàn hạ, nhờ đó mà chỉ một thời gian ngắn sau đó thì tôi mua một cái laptop mới để viết lách trong những giờ rảnh rỗi. Tôi gọi cho Ánh báo tin đã đi làm trở lại và đã mua một cái laptop mới dành cho việc viết lách. Ánh rất mừng và lần cuối cùng xuống vùng Little Saigon vào đầu năm nay, tuy không có nhiều thì giờ và trời đã khuya rồi, vậy mà Ánh vẫn còn đến nhà tôi để install cái font Unicode tiếng Việt cho tôi. Dù rằng cái máy của tôi không chịu nhận Unicode và không sử dụng được nhưng mà tôi vẫn còn giữ cái software đó vì đó là kỷ niệm của Ánh.

Tôi cũng có vài điều còn thất hứa với Ánh.

Sau khi Ánh cho đăng bài "Thưở Còn Cắp Sách" trong đặc san PTG-ĐTĐ 2004, tôi mới biết rằng ngày xưa Ánh có hưởng học bổng của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Collège de Cầnthơ của Bác sĩ Phạm Kim Tương. Tôi nói với Ánh rằng tôi có quen với con gái của BS Tương thì Ánh mừng lắm và xin tôi giới thiệu với bà này. Tôi nói với Ánh rằng cách đây mấy năm khi gặp bà trong lúc cùng đi với Ánh thì tôi đã giới thiệu rồi, tuy nhiên lúc đó tôi chỉ giới thiệu bà là con dâu của Cụ Hồ Hữu Tường mà thôi vì tôi không biết Ánh có biết BS Tương. Ánh đã khẩn khoản xin tôi lần sau lên San Jose thì mời chị Monique, con gái của BS Tương, đi ăn và giới thiệu cho Ánh để Ánh được có cơ hội bày tỏ lòng biết ơn về sự trợ giúp học bổng mà thân phụ của chị đã dành cho Ánh gần 50 năm về trước. Tôi hứa với Ánh là lần sau lên San Jose tôi sẽ giới thiệu Ánh với chị Monique, nhưng than ôi, từ năm ngoái cho đến nay tôi chưa có dịp lên thăm lại vùng Thung Lũng Hoa Vàng của Ánh để giới thiệu cho hai người được biết nhau, để cho Ánh có dịp cám ơn người con của ân nhân của mình thời thơ ấu thì Ánh đã ra người thiên cổ!

Một điều thất hứa nữa là cuốn sách mà tôi đang viết.

Mỗi lần gặp gỡ hay nói chuyện qua điện thoại, bao giờ Ánh cũng hỏi tôi cuốn sách đã viết tới đâu, chừng nào thì xong...? Và lần nào cũng như lần nào tôi đều nói với Ánh rằng cuốn sách đã gần xong và tôi hứa với Ánh rằng tôi sẽ hoàn tất cuốn sách đó trong một ngày rất gần. Khoảng một tuần lễ trước ngày từ giã cõi đời, khi nói chuyện qua điện thoại, Ánh cũng còn hỏi tôi: "Thưa thầy, chừng nào thì sách thầy viết xong? Em hy vọng rằng sẽ còn có được cơ hội đọc được cuốn sách của thầy...".

Một phần của cuốn sách tôi viết đã được cho trích đăng trong gần suốt tháng 4 năm 2005 trên một tờ nhật báo tại Los Angeles và tôi dự định sẽ e-mail phần này gần cả trăm trang cho Ánh đọc nhưng bất hạnh thay, Ánh sẽ không bao giờ có cơ hội được đọc cuốn sách đó vì cho đến nay thì cuốn sách đó vẫn còn dang dở, chỉ mới viết được khoảng chừng hai phần ba và Ánh thì đã vội từ giã cõi đời...

Khi nghe tin Ánh đã từ trần, anh Nguyễn Trung Quân và tôi, hai cây tre già đã đi xe đò lên San Jose để tiễn biệt cây măng Lê Ngọc Ánh một lần cuối cùng.

Đứng trước quan tài, tôi nhìn nét mặt của Ánh thì cũng vẫn thấy nụ cười khả ái trên môi như cái "thuở còn cắp sách", như những ngày mà Lê Ngọc Ánh vẫn còn sinh hoạt với anh em bạn bè trong nhóm Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh PTG-ĐTĐ Bắc California, như những ngày cùng tôi lang thang khắp vùng Thung Lũng Hoa Vàng cách đây mấy năm. Tôi cố dằn cơn xúc động nói vài lời giã biệt với người học trò cũ, với một con người đã có thật nhiều thiện chí và thiện tâm đối với bạn bè, với một người đầy lòng vị tha và nhân ái đối với đồng bào, đồng ngũ, đồng môn và đồng loại, với một người bạn đã cùng tôi chia xẻ nhiều ưu tư, khắc khoải của những kẻ mà tuy quê hương vẫn còn đó nhưng quê hương lại mất rồi, của những kẻ lưu vong sống cuộc đời tỵ nạn như thân phận chùm gởi ở xứ người...

Tôi nắm bàn tay lạnh ngắt của Ánh một lần cuối cùng như một cái bắt tay từ biệt, từ biệt chứ không phải là vĩnh biệt...

Tôi ngậm ngùi nghe tiếng hát của nhóm bạn bè của Ánh trong Hội Hướng Đạo Việt Nam trước khi quan tài đậy nắp: "...cách xa nhưng ta gần nhau..." và tôi biết rằng dù đã ra đi nhưng Lê Ngọc Ánh vẫn luôn luôn còn sống mãi trong tâm tưởng của mọi người đã từng quen và biết Ánh, của những người đã chưa hề nhận được cũng như là những người đã từng nhận được tình thương và sự giúp đỡ của Ánh.

Tôi nghĩ rằng có lẽ sẽ không có ai có thể nào quên được lời nhắn nhủ cuối cùng của Ánh vào ngày 4 tháng 4 năm 2005, chỉ vài tiếng đồng hồ trước khi nhắm mắt lìa đời và những lời di ngôn này đã được gia đình của Ánh in vào một tấm thiệp cùng với di ảnh của Lê Ngọc Ánh để phổ biến cho mọi người đến dự tang lễ:

"Tôi muốn cám ơn tất cả. Tất cả những thân nhân, bà con và bạn bè đã đến với tôi trong giây phút cuối cùng. Và cám ơn đến tất cả quý anh chị em đang hướng tinh thần về đây".

"Hãy thương mến nhau và chăm nom nhau bằng một tình cảm chân thành từ đáy lòng..."

"Lê Ngọc Ánh

"Ngày 4 tháng Tư , 2005."

Cuộc đời vốn chỉ là "sinh ký, tử quy". Lê Ngọc Ánh giờ đây đang về ở một nơi nào đó và tôi xin nguyện cầu cho Lê Ngọc Ánh được an nghỉ thật bình an.

Rest In Peace!

Trần Đức Thắng

(Westminster CA)