LÁ THƯ GỬI THẦY GIÁO CŨ.

 

           

 Thưa thầy kính mến,

     

Nhận được tin thầy đang định cư ở Canada, em mừng quá, vội viết thư thăm hỏi sức khỏe của thầy cô và gia quyến. Mới đó đã hơn ba mươi năm, cuộc đời dâu bể, bể dâu biết bao nhiêu thay đổi. Vậy mà có lúc nào đó trong cuộc đời, em vẫn nhớ đến một khoảng trời rất xanh bên ngoài khung cửa lớp, có cây sao già rì rào lời tình tự quanh năm, nơi ấy đứa học trò lơ đãng của thầy, có lúc đã thả hồn lơ mơ theo cánh chim bay ngoài cửa sổ.

     

Thưa thầy,

     

Nhắc lại thuở còn đi học với các thầy cô năm ấy, em nhớ thầy nhiều nhất, vì lẽ thầy là giáo sư hướng dẫn của lớp, lại cũng là vị giáo sư Việt văn trẻ tuổi, có nhiều bài thơ hay chứa đầy tình tự quê hương và tình yêu tuổi trẻ. Thầy là người đã đi qua và chúng em là những người sẽ bước tới, thầy đã chia xẻ cho đám học trò nhiều chuyện đời buồn vui bên ngoài khung cửa lớp. Nó như một khám phá mới lạ bên ngoài thế giới học trò, bỗng dưng em có cảm tưởng mình được chắp đôi cánh, bay bổng vào vùng trời của sự hiểu biết. Em cám ơn thầy nhiều lắm, nhờ vậy mà sau này em nhìn đời bằng đôi mắt thoáng đãng hơn, quảng đại hơn để dễ dàng chia xẻ với mọi người ngay trong những hoàn cảnh đớn đau nhất.

     

Thầy ơi! Thầy có nhớ cái lớp học  lẫn lộn nam sinh và nữ sinh năm ấy không hở thầy? Chúng em là lũ học trò đang tuổi lớn nên nhiều chuyện lộn xộn lắm, thời của hoa mộng, chiến tranh chưa thực sự có mặt trong  thành phố nên lũ học trò của Thầy vẫn hồn nhiên, vô tư như những tờ giấy trắng, thấp thoáng trong hồn là chút mơ mộng chuyện tình yêu. Ngày nào dưới hộc bàn em cũng có một tờ giấy học trò xếp làm tư, trong ấy khi là mấy vần thơ, khi lại là một lời tỏ tình rất ngô nghê, ngắn ngủi, người gửi đã chẳng ký tên . Có khi tác giả những lá thư ấy là lũ kẹp tóc tụi em chọc ghẹo nhau, có khi là của những bạn phái nam cùng lớp, những câu tỏ tình rất ngộ nghĩnh, mà có khi chỉ là những tia nhìn đằm thắm gởi trao. Trong ấy có đôi mắt của anh bạn   cùng  lớp, chưa hề nói với em một lời nào, nhưng mãi cho đến ngày bạn ấy từ giã bạn bè, xếp bút nghiên theo nghiệp đao binh, rồi vì phần số ngắn ngủi, người bạn ấy đã tử trận sau một trận đánh kinh hồn miền quê mẹ. Đôi mắt ấy cứ ám ảnh em mãi một thời gian dài, ngay cả lúc này đây, đã ba mươi năm trôi qua, em vẫn nhìn thấy đôi mắt ấy, đôi mắt thuở học trò, biểu tượng cho một tình cảm trọn vẹn trong sáng đã làm em bối rối suốt một đời, mỗi lần nghĩ đến. Sau này lớn lên, trong đời em có dịp gặp gỡ và đối diện với bao nhiêu cái nhìn của tha nhân, em mới thấy câu " đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn " thật đúng.

       

Thầy biết không? Sau này ngẫu nhiên em lại đi vào nghề nghiệp của thầy, nghĩa là lại trở thành một cô giáo trẻ của những đứa học trò tuổi măng non. Thấm thoát thời gian theo vận nước nổi trôi, đã xô đẩy mỗi người mỗi nơi mỗi ngả. Gặp bạn cũ, em nghe tin thầy thoát được sang bên kia với ít nhiều mất mát của gia đình, nhưng bù lại thầy có cái tự do bù trừ cho những mất mát đó. Em lại nhớ đến chuyện Tái Ông mất ngựa, cái may cái rủi cuả đời người, và luật bù trừ của Trời đất, như vậy thì buồn làm gì hở thầy? Như em, đứa học trò tầm thường của thầy, có cái mặt tròn và chiếc mũi hếch, khoa thẩm mỹ cũng không làm sao kéo dài cho thanh tú hơn. Nhưng bù lại em có đôi lúm đồng tiền, vì vậy mà khi em cười khuôn mặt đỡ tròn hơn nhờ hai phần lõm xuống trên đôi má, trông em lại có duyên, để  người bạn có ánh mắt năm xưa đã có công ngồi chép bài " Mười thương " tặng cô bạn nhỏ nhoi, tội nghiệp.

        

Sau cái chết của anh bạn học, tự nhiên em chán đời mất một thời gian. Không phải vì nhớ nhung người bạn cũ, nhưng có lẽ  em vừa chợt nhìn ra thân phận nhỏ bé của con người  bất lực trước bàn tay của định mệnh, những bất hạnh đổ xuống từng giây từng phút . Ngày nào trên đường về nhà em cũng phải đạp xe ngang khu nghĩa trang, ngày nào em cũng thấy những vành khăn trắng, những đôi mắt đỏ hoe, những vòng hoa tang héo dần trên nấm mộ mới. Cho đến năm em hai mươi tuổi, khi từ giã ngôi trường xưa và đang chập chững bước vào đời, em có làm được mấy vần thơ cho người bạn cũ, để em ghi lại cho thầy đọc:

              

                 " Người bạn thân yêu ơi!

                 Có những buổi chiều đi qua nghĩa trang,

                 Nhìn những nấm mộ bia xếp hàng im lặng,

                 Buổi chiều có nắng vàng se sắt,

                 Buổi chiều có lá sao khô,

                 Trên cành những bông hoa sứ nở,

                 Lòng tôi chợt nảy sinh bỡ ngỡ,

                 Rồi một mai đời sẽ tàn như nắng quái chiều hôm,

                 Như lá sao khô rời cành bay lả tả,

                 Như hoa sứ rụng trên bờ cỏ uá. . ."

                                               ( thơ Nguyên Nhung ).

       

Thưa thầy, đứa học trò của thầy đã ảnh hưởng phần nào nơi thầy một chút về sự " vô thường " của cõi nhân gian, vốn là không lại trở về không, vốn là bụi lại trở về bụi. Em vẫn nhớ những giờ học cuối năm khi mùa thi đã qua, thầy thường ngâm thơ cho học trò nghe. Mới đầu cả lớp khúc khích cười, nhưng sau phút giây bỡ ngỡ đó, tất cả đều im lặng để nghe tiếng thơ rộn ràng trong thanh âm sang sảng của ông thầy nghệ sĩ, có những uẩn khúc, có những đớn đau. Sau này lớn lên em mới hiểu, thầy cũng cần có những phút giây để trang trải nỗi niềm sâu kín của con tim. Như em vậy thôi, em cũng từng say sưa đọc đi đọc lại bài viết của mình, có lúc cười như người khùng điên, có lúc buồn chứa chan nước mắt, như lúc này đây, khi viết thư cho thầy em cũng khóc...

 

       

Năm 75, một thời gian sau em thôi làm  cô giáo, lê la ngoài chợ Trời kiếm sống, cho nên giờ này mới có lắm chuyện để kể thầy nghe. Em nghĩ thầy rất thích đọc thư, dù không có giờ để viết thư. Ở bên này, người ta chỉ cần nhắc phôn lên là nói đủ thứ chuyện đời, lời nói tuôn ào ào như nước đổ xuống ngày đêm ở thác Niagara nơi thầy ở. Em tưởng tượng một ngày nào đó nước ngừng đổ, thác chỉ còn trơ lại những bờ đá khô queo, lởm chởm, người ta sẽ dửng dưng nhìn nó như một phong cảnh chết, có còn lại chăng là những tấm hình lưu lại cảnh hùng vĩ của chốn xưa. Do đấy em mới viết thư để thầy đọc, rồi có một lúc nào đó , vô tình thầy lật lại chồng thư cũ, biết đâu lá thư của em không mang lại cho thầy một chút vui trong cuộc sống vốn rất nhiều phiền muộn, phải không thầy?

        

Em là cô giáo nghèo giữa đám học trò cũng khốn khổ như mình. Thầy biết không? Chồng em là một sĩ quan chế độ cũ, bảy tám năm tù tội anh để em một mình ngu ngơ nuôi hai đứa con nhỏ, chỉ có hai đứa thôi mà nhiều khi em muốn ngã gục thì đừng nói gì đến những người phụ nữ thay chồng nuôi một đàn con năm, bảy đứa. Em vừa làm cô giáo vừa đi bán chợ trời. Ở trường học, em rất xấu hổ khi đã làm nghèo đi kiến thức của học trò  bằng những bài học chiến tranh, ra trường đời, có chung đụng với sự lọc lừa kiếm sống, em ngây thơ như con nai tơ. Sự bắt buộc phải nói những điều lếu láo trong lớp học đã làm em xấu hổ, rồi bắt buộc phải dối trá ngoài chợ đời làm em tủi nhục biết bao nhiêu.

 

Em gặp đứa học trò cũ nhiều niên học trước, đứa học trò năm xưa vừa lớn lên, nay cũng được đẩy ra vỉa hè để tập ăn gian, nói dối với mọi người, tất cả những gì học được nơi nhà trường mấy mươi năm trước đều vứt đi, nếu không làm sao để sống. Đứa học trò cũ dạy lại cô giáo năm xưa cách lừa đảo con người, biến cũ thành mới, có thành không. Đau lòng quá, em không thể học thuộc được những mánh khóe của cuộc đời bẩn thỉu, như đã từng bắt học trò mình học thuộc lòng những bài học làm người trên ghế nhà trường năm xưa. Thưa thầy, trong môi trường này em lại một lần nữa cố gắng duy trì phần tốt của nhà giáo giữa nơi xô bồ đó, được chừng nào hay chừng nấy, nếu không chọn được sự hoàn thiện thì cũng phải chọn điều gì ít xấu nhất, phải không thầy?

        

Thầy còn nhớ thầy Nhiên dạy Anh văn? Tội nghiệp, thời điểm ấy môn sở trường của thầy Nhiên đã trở thành cấm kỵ,  người ta coi sinh ngữ để phân định là bạn hay thù, nó được thay đổi theo lập trường chính trị. Thầy Nhiên bỗng nhiên thất nghiệp, phải xoay nghề xe đạp ôm. Mỗi ngày ra chợ, em đều gặp thầy kiên nhẫn đợi khách dưới tàn cây phượng vĩ ở đầu chợ. Trong chiếc áo nhà binh rộng thùng thình, đôi mắt kính của thầy hấp háy dưới nắng trưa, một mảng lưng áo ướt đẫm mồ hôi, tự nhiên em muốn khóc. Giữa trưa hè nắng đổ lưả, em sửa soạn trải tấm ni lông lên viả hè, gặp ai đi ngang cũng hỏi :

 

"Có gì bán không? ".

 

Cái điệp khúc ấy lập đi lập lại đến mỏi mồm, lại trâng tráo nữa. Một người đàn ông đi ngang với đôi tay buông thõng, ông ta chỉ vào chiếc áo đang mặc trên người :

 

"Mua không ? ".

         

Tức thời có mấy cái miệng đồng thanh cò kè trả giá. Sau một lúc như thế, người đàn ông cởi chiếc áo quẳng xuống tấm ny lông trên vỉa hè. Thưa thầy, một tấm thân gầy đếm được những chiếc xương sườn, một bộ ngực lép phơi ra giữa nắng hè gay gắt, không còn gì để dấu diếm nữa. Có một cái gì đó muốn cười, có một cái gì đó muốn khóc, ngó ra gốc cây phượng bên bờ sông, trời trưa đứng gió, bóng thầy Nhiên đứng đó đợi khách và bóng người đàn ông cởi áo bán ở chợ trời như chập chờn, trộn lẫn vào nhau . Những giọt mồ hôi và những giọt nước mắt, những viên kim cương và những giọt sương, em làm sao phân biệt nổi. . .

        

Không ngờ có ngày em cũng trôi giạt qua đây, dù nơi nào cũng có những nỗi cực nhọc của cuộc sống, nhưng ít ra ở đây, em cũng có chút thì giờ thong thả để viết thư thăm thầy, để viết hết những gì mình muốn viết. Nước Mỹ không phải thiên đàng mà cũng chẳng phải là hoả ngục thầy nhỉ, ta có quyền chọn lựa cái nào đỡ xấu nhất, đấy là lý do tại sao thầy trò mình có mặt nơi đây.

        

Em xin dừng bút nơi đây. Kính chúc thầy cô và gia đình được bình an, khỏe mạnh. Em rất mong nhận được thư hồi âm của thầy.

                                                                     Đứa học trò cũ của thầy.

                                                                           N.N.