NHỚ LẠI NHỮNG NĂM DẠY HỌC

TẠI TRỪƠNG PHAN THANH GIẢN CẦN THƠ

Bùi Bằng Hăn

 

Tiếng đàn bầu hoà với tiếng hát trong trẻo và thánh thót như xoáy vào ḷng người của ca sỹ Bảo Yến

"Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm qua bến bắc Cần Thơ"

làm cho tôi nhớ lại những năm tôi dạy học tại trường Trung Học Phan Thanh Giản, Cần Thơ cách đây gần nửa thế kỷ.

* *

*

Cuối tháng 9-1955, sau khi có kết quả thi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm (1), trong khi chờ đợi bổ dụng và đang dạy một số giờ Toán tại một trường tư ở Saigon, th́ được tin tôi dạy Lư Hoá tại trường Nguyễn Trăi di cư (đang học nhờ tại một trường tiểu học ở đường Trần Hưng Đạo, gần chợ Bến Thành Saigon) mà Ông Trần Văn Việt là Hiệu Trưởng; ông nguyên là Hiệu Trưởng Trung Học Ngô Quyền ở Hải Pḥng trước 1954. Tôi không tin v́ chưa nhận được giấy tờ ǵ. Măi đến tháng 11 mới nhận được Sự Vụ Lệnh do ông Giám Đốc Nha Học Chánh Nam Việt là Cụ Trần Bá Chức kư, nha lúc ấy đặt ở cái nhà cao cẳng, rất xưa (sau phá bỏ) ở đường Lê Thánh Tôn đối diện Bộ Giáo Dục trước 1975. Trong SVL có tôi, anh Phan Văn Kha và anh Tôn Thất Ngạc bổ dụng về trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Sau này hỏi ra mới biết, lúc đầu đă chỉ định chúng tôi ở Saigon. Nhưng sau, v́ các tỉnh cũng thiếu giáo sư và tại Saigon có thể dễ tuyển giáo sư dạy giờ nên chỉ định chúng tôi về Cần Thơ.ø

Cần Thơ thật xa lạ đối với tôi. V́ từ khi dời HàNội sau Hiệp Định Genève di cư vô Saigon ngày 12-8-54 tại phi trường Gia Lââm, tôi chỉ đi về Thủ Đức, Gia Kiệm mà chưa đi đâu xa Saigon. Hơn nưă, nghĩ rằng đă chạy từ Bắc vào Saigon là đă quá xa và lạ lẫm rồi, nay lại đi xa Saigon nữa th́ cũng rất buồn. C̣n nghe nói ở miền Tây, trước kia thường hay bị đe doạ bởi các ông kẹ nên cũng hơi ớn. Mấy bạn quen bảo Cần Thơ là một tỉnh lớn thứ ba ở miền Nam có thể so với Nam Định ở Bắc. Nhớ ra có anh Hoàng Ngọc Quỳ tốt nghiệp khoá trước và anh Nguyễn Thế Vinh, bạn cùng ở Đại Học Xá Minh Mạng, đang dạy tại Cần Thơ. Tôi và anh Kha rủ nhau đi mua vé chuyến xe chạy đêm cốt để tới Cần Thơ sáng sớm, cho xong công việc trong buổi sáng rồi chiều trở về. Anh Ngạc không xuống và xin về Huế, nơi quê anh ta.

Rạng sáng th́ tới bắc Mỹ Thuận. Trời sáng dần. Hai bên đường, cánh đồng lúa đang hồi con gái xanh mơn mởn. Gió nhẹ thổi từ ruộng lên mát dịu. Cánh đồng lúa tựa như mặt biển dợn sóng. Đến quận B́nh Minh gần bắc Cần Thơ, bản doanh của ông Năm Lửa, rải rắc bên đường có những toán lính quốc gia đóng, đang thu dọn mùng mền và hành trang cá nhân vào ba-lô sau một đêm ngon giấc. Xe qua bắc vào thành phố. Thành phố thật yên tĩnh. Công chức bắt đầu đi làm và học sinh đi học. Chúng tôi thuê xe lôi đến chỗ anh Quỳ trọ tại nhà ông Nguyễn Thiệu ở đường Lê Lợi, sau đổi tên là bến Ninh Kiều. Lần đầu tiên thấy chiếc xe lôi thật lạ, khi leo lên ngồi chỉ sợ xe đổ. Tới nơi th́ anh Quỳ sắp sửa đi dạy. Anh nhờ Ông Thiệu cho chúng tôi quá giang đến trường. Ông Thiệu cũng là Giáo Sư trường, lúc ấy là Dân Biểu Quốc Hội và đă nghỉ dạy khi ra ứng cử. Tới trường th́ các lớp đă vào học. Trường thật to lớn và cổ kính. Chúng tôi đến văn pḥng đặt ở dăy giữa, cánh phải. Ông Huyện Dưỡng, chánh văn pḥng đưa chúng tôi vào tŕnh diện ông Hiệu Trưởng Nguyễn Băng Tuyết.

Ông Hiệu Trưởng rất nghiêm trang, hoà nhă, niềm nở tiếp chúng tôi. Sau mấy câu xă giao, Ông hỏi anh Kha dạy môn ǵ. Anh Kha, ban Văn Chương xin dạy môn Việt Văn. Sau đó ông hỏi tôi. Tôi, ban Khoa Học xin dạy môn Toán các lớp nhỏ cho quen v́ mới ra trường. Ông cho mời Ông Giám Học Nguyễn Cao Thăng sang, hỏi ư ông Giám Học và bảo tôi dạy Lư Hoá, Vạn Vật các lớp Đệ Tứ và Đệ Tam (lớp Chín và lớp Mười) v́ môn Toán đă có thày dạy. Tại trường, niên khoá 55-56 lớp Đệ Tam là lớp cao nhất bên chương tŕnh Việt, bên chương tŕnh Pháp là lớp Première đă có từ trước. Ôi chao, lính mới ṭ te mà phải dạy các lớp lớn và lớp thi nữa, v́ học hết Đệ Tứ học sinh đi thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Tôi từ chối nhưng ông nói chúng tôi được huấn luyện, đào tạo qua Trường CĐSP nên nhà trường giao cho phụ trách. Không thể thoái thác, ông bảo chúng tôi đi dạy sớm. Chúng tôi xin một tuần lễ sau sẽ xuống dạy học. Anh Kha xin chỗ ở và sẽ được ở trong trường. Tôi có gia đ́nh, trường chưa có nhà để cấp cho. Từ giă Ông Hiệu Trưởng, chúng tôi sang pḥng Ông Giám Học và ông bảo chiều sẽ trao Thời Khoá Biểu cho. Chúng tôi đến tá túc ở nhà anh Vinh.

Tuổi trẻ đang ở Saigon náo nhiệt, đông vui; về Cần Thơ yên tĩnh vắng lặng, chúng tôi cảm thấy buồn man mác. Bầu trời u ám, mưa rả rích suốt buổi chiều và đêm làm càng buồn thêm. Sáng dậy, chúng tôi ra xe về sớm. Anh Kha nói là đêm nằm trằn trọc, buồn muốn khóc.

* *

*

Một tuần sau, chúng tôi xuống dạy. Buổi đầu tiên vào sáng thứ hai, tất cả các lớp sắp hàng ở sân để làm lễ chào cờ. Lúc ấy, quân đội chưa trả trường Đoàn Thị Điểm. Chúng tôi mới về c̣n lạ nước lạ cái, lớ ngớ không biết trong khi tất cả đă tề tựu ở sân th́ chúng tôi c̣n ngồi trong pḥng giáo sư ở dăy giữa. Ông Trần Ngọc Nhung điều khiển chào cờ cho mời chúng tôi ra. Trong khi đi qua sân để đến hàng GS đứng ở gần cổng, học sinh đều nh́n về phía chúng tôi; chắc những học sinh lớn cho rằng chúng tôi c̣n quá trẻ nhất là anh Kha, người trắng trẻo trông c̣n "bạch diện thư sinh" lắm làm chúng tôi ngượng quá chừng. Niên khoá đầu 1955-1956, tôi dạy Lư Hoá, Vạn Vật các lớp Đệ Tam A, B1, B2, C học ở mấy pḥng dăy sau cùng về cánh phải và mấy lớp Đệ Tứ học ở dăy ngay cổng vào. Những lớp Đệ Tam đầu tiên, năm sau lên Đệ Nhị (lớp 11), tôi lại phụ trách môn đó nữa và 2 lớp Đệ Nhị B1, B2 học trên lầu chỗ dùng làm infirmerie trước kia, ở dưới là trại mộc. Mấy thày đă làm việc trước bảo lầu ấy có ma, v́ hồi Nhật đóng, dùng chỗ ấy để tra tấn, nhốt người, và khi Nhật thua th́ có sĩ quan Nhật tự sát ở đó. Anh Kha và Cửu ở trong trường nói ban đêm mỗi khi đi qua, nổi da gà. C̣n nhiều câu chuyện đồn về ma ở chỗ này nữa. Hết niên khoá 56-57 th́ các em thi Tú Tài phần thứ nhất (chưa có tổ chức ở Cần Thơ). Sau đó các em phải rời trường v́ chưa có lớp Đệ Nhất (lớp 12), măi đến 59-60 mới mở lớp Đệ Nhất. Ngoài ra có khi tôi phải dạy một lớp Sử Địa Đệ Thất nữa. Chương tŕnh Trung Học VN đang phát triển mạnh. Những niên khoá sau, v́ thiếu thày nên Ông Giám Học sắp tôi dạy tối đa, ít nhất 6 giờ phụ mỗi tuần, thường th́ đến 10 giờ. Một số Giáo Sư khác cũng thế. Tôi xin ông cho dạy ít đi nhưng ông không chịu. Mới đi dạy học, cần nhiều thời gian để soạn bài, chấm bài. Thường th́ phải làm việc đến 12 giờ đêm. Sách giáo khoa tiếng Việt hồi đó rất ít. Phải t́m ở các sách tiếng Pháp, soạn dịch ra cho học sinh. Học sinh hiếu học, chăm chỉ, lễ độ và ngoan hiền. Một số em lớp Đệ Tứ c̣n rủ nhau, tự tổ chức, mượn pḥng học trường tư thục Vơ Văn và nói tôi dạy thêm cho các em vào buổi tối.

Những niên khoá sau, nhà trường cũng sắp tôi dạy môn ấy cho các lớp Đệ Nhị và Đệ Tứ. Những học sinh mà tôi c̣n nhớ tên là: Lâm Văn Hai (trưởng lớp), Nguyễn Viết Trương, Triệu Canh Ngũ có em là Triệu Quới, Lâm Thị Minh Nguyệt sau về dạy tại Vũng Tàu và mất sau năm 1975, Nguyễn Trung Quân sau làm Hiệu Trưởng PTG rồi đổi về Saigon làm Hiệu Trưởng trường Nguyễn An Ninh, Đoàn Văn Ri, hai d́ cháu Lâm Thị Nguyệt Thu vàø Tuyết ở Sóc Trăng lên, em Thuỷ ở Long Xuyên sang, Phạm Thị Hồng, Phan Lương Năng, La Quang Nhứt, Bùi Cẩm Hoa ở cạnh nhà tôi trong con hẻm ở Lộ Mới, em thường nói :"Thày và em cùng họ Bùi, nhưng chắc em cùng họ với Bùi Kiệm", Hàng Ngọc Tường, Đinh Kim Linh, em Sáng, Nguyễn Kim Loan, Lệ Hoa, Hoa Lê, Nguyễn Tri Tông, Trương Bạch Mai, Nguyễn Kim Nga, Trương Hoàng Hà, Nguyễn Hữu Lễ làm Hiệu Trưởng Tống Phước Hiệp một thời gian, Châu Thanh Quang, Cao Thanh Tùng sau phụ trách mục Đố Vui Để Học trong phần phát thanh học đường trên đài phát thanh Saigon, Trần Nghĩa Trọng sau có ra Vũng Tàu học mộït thời gian, Nghê Hữu Chí, Đặng Khải Trí to con thường đi xe vespa, Abdul Rhaman gốc Ấn Độ, Nguyễn Huy, Louis Lư Thới Sơn, Phan Sĩ Nghiệp, Trần Cẩm Quỳnh Dao trưởng lớp năm nào cũng lănh phần thưởng danh dự và em là Trần Tấn Duệ, Nguyễn Ngọc Yến, Nguyễn Hiếu Đức sau “nâng khăn sửa túi” anh Lưu Khôn, Lữ Thị Đoàn Tựu, Nguyễn Thị Bích Hằng và Nguyễn Ngọc San con ông Hiệu Trưởng Tuyết, Nguyễn Cao Đảm con ông Giám Học Thăng, Nguyễn Ngọc Vĩnh con ông Hiệu Trưởng Kính, Phan Thị Huệ, hai chị em Denise và Hélène Phan Thông, chị em Lê Hồng Thu và Lê Hữu Tống……..

Chắc các em lớp Đệ Nhị A niên khoá 56-57 (hay 57-58) c̣n nhớ buổi liên hoan tất niên mà các em tổ chức tại nhà tôi tại bến Ninh Kiều. Cần Thơ có một năm bị một trận băo lớn, trong phạm vi hoạt động Hiệu Đoàn, một vài lớp lớn cùng một số thày đi giúp đồng bào dựng lại nhà đổ ở 2 bên con lộ gần Phụng Hiệp.

Hàng năm, gần Tết ban báo chí Hiệu Đoàn thường ra một tờ báo tên là B́nh Minh. Có một năm, thời ông Hiệu Trưởng Kính, 2 em học sinh trong ban báo chí chạy đến nhà tôi vào môt buổi trưa, hớt hải thưa:

"Ông Hiệu Trưởng đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật xử chúng em trong ban báo chí v́ chúng em đưa in báo mà không xin phép ông. Chị H. ức quá thổ ra huyết, nhờ thày can thiệp giùm; trước khi đem ra nhà in chúng em có đưa thày cố vấn báo chí kiểm duyệt".

Tôi ngạc nhiên, nghĩ rằng tại sao các em đă đưa kiểm duyệt mà lại đưa các em ra HĐKL, các em có phạm lỗi ǵ đâu ! Một vài em trong ban báo chí đang là học tṛ tôi. Tôi e ngại cho các em nhất là em H.. Lúc ấy chúng tôi đang có xích mích với ông Hiệu Trưởng. Tôi bảo hai em:

"Hội đồng kỷ luật xử th́ tôi không thể can thiệp, nhưng nếu ông Hiệu Trưởng hỏi th́ tôi sẽ nói về hạnh kiểm các em và xin cho".

Sau, trong một buổi họp Giáo Sư, ông Hiệu Trưởng có tŕnh bày vụ này. Ban báo chí có đưa cho nhà in bài thơ "Vịnh cây tre" trong đó có câu “Kêu cho rền lắm chẳng ai nghe". Như vậy th́ trách nhiệm là của GS cố vấn: ông Bùi Văn Nên. Nhưng ông Nên nói khi ông kiểm duyệt th́ không có bài đó.

Cây tre là tượng trưmg cho chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà, trên các con dấu mộc của các cơ quan đều có h́nh bụi trúc ở giữa. Trong thực vật học, tre và trúc cùng mọât họ. Cây trúc là biểu hiện của người quân tử trong xă hội mà Nho Giáo là nền tảng " Tiết trực tâm hư ", đốt th́ thẳng mà ruột th́ rỗng. Nộâi dung bài thơ là chống chế độ. Báo đă in, nhưng chưa phát hành và tờ có bài ấy bỏ đi thay bằng bài khác.

Toàn bài thơ ấy, do em CHS TNT ở Cần Thơ mới cho biết như sau:

 

Mượn danh dối thế, chúng chê dè

Quân tử ǵ mà thứ giống tre!

Có mắt không tṛng, hay cót két,

Rụng chà trơ gốc, giỏi c̣ ke

Dụng làm than củi trong giây lát

Để lót vạt giừơng chắc dữ be!

Ngoài lớp xanh um, trong trống phọc,

Kêu cho rền lắm chẳng ai nghe

 

Tôi vẫn thấy em H. đi học như thường, thầm nghĩ rằng hai em đến thưa với tôi bịa tên H. để có thể v́ em H. mà tôi can thiệp để xin ông Hiệu Trưởng và những vị trong Hội Đồng Kỷ Luật tha v́ em H. là học tṛ ruột của tôi. Sau tôi cũng chẳng để ư để hỏi lại em H. và cũng tránh không đề cập đến vụ ấy v́ có liên quan đến chống chế độ dễ bị Công An hỏi thăm sức khoẻ.

Tác giả là Phạm Thị Hồng Loan (Phạm Thị Lài) học lớp Đệ Ngũ. Liên quan đến vụ báo chí này có Nghê Hữu Chí (Tư Chiêu) lúc ấy học Đệ Nhị. Hai em này đều bị đuổi học. Lài theo Chí vào khu đi cách mạng, lấy bí danh là Tám Thuận và 2 em kết duyên vớí nhau. Sau 1975, Chí và Lài trở về Cần Thơ và giữ chức lớn trong Ban Tiếp Quản (cũng theo CHS TNT cho biết).

Cũng từ niên khoá 56-57, Ông Ba Thân, Giám Đốc trường tư thục Thủ Khoa Huân mời tôi dạy Lư Hoá lớp Đệ Tứ trường ông. Ông c̣n tổ chức lớp tối dành cho người lớn đă đi làm việc, học để thi Tú Tài 1 và mời chúng tôi dạy. Trong số những GS dạy các trường tư có các anh: Hoàng Ngọc Quỳ, Phan Văn Kha, Mạc Kỉnh Trung, Bùi Khương, Phạm Đức Triều, Lê Minh Thuận, ông Phạm Minh Đức, Cao Văn Tư…..và c̣n nữa, tôi không nhớ hết. Anh Quỳ vua dạy tư, đẹp trai, chúng tôi thường gọi anh là Don Juan và nghĩ rằng anh sẽ làm pḥ mă, anh chỉ cười. V́ con gái ông Hiệu Trưởng, chúng tôi gọi là công chúa, con trai là hoàng tử. Sau này trật lất, anh Vũ Đ́nh Triều mới là pḥ mă Ông Hiệu Trưởng Tuyết. Hàng ngày đă gặp nhau ở trường công, ra ngoài lại thấy mặt nhau ở trường tư nữa, đi đâu cũng gặp nhau. Ông Cao Văn Tư bèn đặt nhóm GS dạy tư chúng tôi là "thợ đục”. Tôi không rơ tại sao ông đặt như vậy. Có lẽ Ông Đức dạy nhiều trường và nhiều lớp nên ông gọi đùa là Phạm Minh Đục chăng. Hết giờ ở trường công là sách đục đi trường tư gơ. Ngoài trường tư thục Thủ Khoa Huân c̣n có trường tư thục Vơ Văn của Kỹ Sư Phan Lương Báu nữa.

Các Giáo Sư đàn anh lớn tuổi như Ôâng Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Tri Hựu, Nguyễn Gia Lịnh, Trương Văn Xướng, Bùi Văn Nên, PhanVăn Đăïng, Phan Lương Hiền, Phan Ngọc Châu, Cao Văn Tư, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Văn Quư, Cụ Dương Tự Tam, Nguyễn Văn Quư (dạy Anh Văn), Lương Vinh Sanh, Ông Bà Đỗ Văn Của ……. Cụ Nguyễn Văn Cang mà anh Kha và anh Lê Đức Cửu cùng ở trong trường với cụ gọi cụ là "Papa" v́ đôi khi ở Saigon, cụ dẫn 2 anh đi “thăm dân cho biết sự t́nh", nhóm từ mà anh Cửu dùng. Các Giáo Sư này rất tốt, thường gọi chúng tôi là "mấy anh trẻ trẻ". Ông Nên gọi tôi là chú em v́ cùng họ Bùi. Các vị này thường nói:"nếu chúng tôi mặc đồng phục học sinh th́ khó biết ai là thày, ai là tṛ". Nhóm trẻ chúng tôi mới về dạy thường đi lại chơi với nhau có: anh Lê Minh Thuận, Mạc Kỉnh Trung từ Long Xuyên đổi sang, Vũ Đ́nh Triều được gọi là Triều đen, Phạm Đức Triều là Triều trắng làm rể Cần Thơ, Trương Văn Ngọc tóc quăn, Lê Xuân Viên được gọi là anh Ba Viên, Bùi Quốc Tường là Tường kính, Phan Văn Kha đầy máu văn nghệ, Nguyễn Khoa Tuấn, Hoàng Văn Nghi cộng chỉ số với chị Đỗ Thị Lan dạy cùng trường, cũng CĐSP ra. Anh Bùi Khương, chúng tôi thường đùa với anh rằng : "sao, mía ngọt đánh cả cụm chứ “; anh cười và bảo chúng tôi "bậy mà" v́ chị Lệ Hoàng dạy cùng trường có em là Trần Thị Lệ Dung, đẹp người học ở Đại Học Khoa Học Saigon. Những chiều Chủ Nhật và ngày nghỉ, chúng tôi thường rủ nhau vào trường đánh bóng chuyền, chơi ping-pong, thuê thuyền sang cồn tắm, ṃ ốc. Hay đi Cái Răng, B́nh Thuỷ. Xa hơn th́ đi Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng. Ngoài ra c̣n các anh Lưu Khôn khôn khéo, giỏi Hán Văn, Trương Quang Minh trắng trẻo, nhỏ nhẹ, hiền lành, Tuấn cao, Lê Khánh Duệ không quân giải ngũ, tennis một cây, c̣n trẻ nhưng khá đông con; các chị Lữ Thị Phước Đán hiền từ, Đỗ Thị Thi nghiêm trang….Bây giờ th́ tứ tán mọi nơi, ai c̣n, ai mất.

* *

*

Có "an cư mới lạc nghiệp". Lúc mới xuống dạy, tôi ở trọ nhà anh chị Nguyễn Thế Vinh, căn phốâ ở Lộ Mới của Bác Sỹ Hành do toà Tỉnh trưng dụng thuê, cấp cho trường, gần nhà Ông Sanh và ông Quư. Rồi dời về căn phố trong một con hẻm ở Lộ Mới do Giáo Sư Lê Bặc Săng ở trước, cũng do toà Tỉnh trưng dụng. Căn này thiếu tiện nghi. Ông Huyện Dưỡng nói: "ở đó ăn lu, giặt lu, tắm cũng lu” v́ không có nước phông ten. Sau cùng, nhà trường cấp cho tôi và anh Thuận căn phố lầu ở bến Ninh Kiều. Vợ chồng tôi ở dưới, anh chị Thuận ở trên lầu. Căn này trống khi ông Nguyễn Thiệu rời Cần Thơ về Saigon, cũng do toà Tỉnh trưng dụng, chà già quản lư khu đó 2 căn. Các đồng nghiệp đàn anh đă ở Cần Thơ từ trước bảo những vị ở căn ấy sau toàn làm lớn. Căn phôù nh́n ra sông nên mùa hè mát mẻ nhưng mùa gió th́ quá lộng. Sáng sớm, xuồng đuôi tôm của đồng bào, chạy sành sạch từ các vùng quê chở rau quả, gà vịt, các sản phẩm ở vườn…ra chợ Cần Thơ bán thật đông vui, trên bến dưới thuyền tấp nập và nhộn nhịp. Khi tôi thuyên chuyển th́ trường cấp cho anh Lê Khánh Duệ. Ở đây, vào một buổi chiều khi đi dạy học, ra nhà trước tôi nhận được một phong thư do ai vừa ném vào ở nền gạch v́ thời ấy c̣n nghiêm, cửa để mở. Thư nặc danh, không có dấu bưu điện, gửi cho tôi. Mở ra xem th́ đó là thư của Việt Cộng nội dung tuyên truyền. Tôi vội chạy ra th́ người ném vào đă biến mất rồi. Tôi làm đơn kèm thư tŕnh ông Hiệu Trưởng, rồi trường tŕnh Công An. Sau đó không thấy ǵ nữa cả.

Trong bốn niên khoá dạy tại PTG, tôi làm việc dưới quyền ba vị Hiệu Trưởng. Vị đầu tiên là Ông Nguyễn Băng Tuyết. Ông thuộc lớp đàn anh, đào tạo từ thời Pháp, cựu trào, hiền từ, nghiêm trang, rộng lượng đầy ḷng bao dung. Bọn trẻ chúng tôi kính phục ông. Năm 1957, ông đổi sang Vĩnh Long làm Hiệu Trưởng Nguyễn Thông. Sau đổi về Saigon làm Hiệu Trưởng trường Nguyễn Trăi cho đến khi về hưu. Sau khi tôi rời trường PTG, tôi có được làm việc với ông vài lần trong các hộâi đồng thi. Và khi về hưu, anh Triều Vũ nói là ông dạy cho trường J.J. Rousseau lúc ấy c̣n thuộc phái bộ Văn Hoá Pháp. Ông mất sau năm 1975.

Ông Giám Học Nguyễn Cao Thăng vui tính. cởi mở, coi chúng tôi như đàn em thường hay nói chuyện văn với chúng tôi. Ông kể: "Hồi ông học CĐSP ở Hà Nội bảnh lắm, phi Cao Đẳng bất thành phu phụ". Chúng tôi rất kính trọng ông. Anh Nghi thường nói lén rằng, trông Ông Giám Học như con gà chọi, v́ khi đi ông luôn vội vă. Xin Cụ tha lỗi cho anh. Mong Cụ vẫn duy tŕ tính trẻ trung như ngày nào.

Ông Hiệu Trưởng thứ hai là Ông Bửu Trí, nguyên là Giáo Sư PTG sang Vĩnh Long làm Hiệu Trưởng Nguyễn Thông rồi chuyển về Cần Thơ thay Ông Tuyết năm 1957. Ông Trí tính xuề xoà, b́nh dân và cởi mở. Ông chỉ làm trong một thời gian ngắn rồi được Bộ điều động về Saigon đảm nhiệm chức Giám Đốc Nha Trung Học. Sau một thời gian ở Nha, ông được điều động đi đâu tôi không c̣n gặp ông nữa.

Khi hai vị này thuyên chuyển th́ tất cả Giáo Sư và nhân viên nhà trường tổ chức tiệc tiễn long trọng. Ngày rời Cần Thơ, anh chị em c̣n sang tận nhà để tiễn đưa ông.

Vị thứ ba là ông Nguyễn Văn Kính, người mà chúng tôi có nhiều kỷ niệm với ông. Ông tốùt nghiệp CĐSP Hà Nộâi thời Pháp, đă từng làm Hiệu Trưởng Pétrus Kư thời Đệ Nhất Cộng Hoà và là đấu thủ tennis trong đội tuyển VIỆT NAM tham dự Thế Vận Hội Melbourne 1956. Tôi viết ra đây chỉ để ghi lại những kỷ niệm đầu đời khi mới bước vào nghề dạy học, không có ư ǵ khác. Khi được tin ông về làm Hiệu Trưởng, một thày dạy trước kia dưới quyền ông nói là ông khó tính, quan liêu nhiễm của Tây. Thày này kể rằng, thời Pháp khi ông làm Thanh Tra Tiểu Học liên tỉnh, xét lớp thày giáo có khi ông lấy ngón tay quệt lên gờ bảng mà có bụi phấn dính vào là bị ông rầy ngay. Chúng tôi quan niệm ông Hiệu Trưởng cũng là một đồng nghiệp đàn anh, uy tín, có kinh nghiệm được Bộ giao phó điều hành trường và giúp đỡ các đồng nghiệp đi sau trong lănh vực nghề nghiệp mà thôi. Hơn nữa, tự nghĩ ḿnh là thày giáo, cứ làm đủ phận sự th́ có ǵ e ngại. Khi về nhận chức, ông là người ưa hoạt động. Pḥng thí nghiệm được xây vào thời ông bằng ngân khoản viện trợ Mỹ. Ông c̣n vận động phụ huynh quyên góp để xây thư viện cùng một lúc và ngay chỗ PTN. Niên khoá đầu tiên từ khi ông làm, ông mở ngay kỳ thi tuyển để nhận thêm học sinh vào tất cả các lớp cho đủ sĩ số. Đó là việc làm tốt. Từ trước đến giờ trường không có mở thi như vậy. Thi xong, ông giao hoàn toàn cho tôi đánh số mật mă, cắt phách và phân phối bài thi cho Giáo Sư chấm. Ông hỏi "vous" cần ai phụ giúp. Tôi nói xin nhờ anh Trung và anh Trung cùng làm với tôi. Chấm xong, ghi và cộng điểm, khi hoàn tất th́ trao lại cho ông. Ông rà soát lại, quyết định lấy số thâu nhận rồi đưa ra tŕnh bày cho Hội Đồng Giáo Sư thông qua mà không để ư ǵ đến ư kiến của Giáo Sư cả.

Có một việc xẩy ra trong kỳ thi này. Khi ghi điểm th́ thấy mất một xấp 5 bài làm cuả 5 thí sinh v́ khi giao bài cho Giáo Sư và họ trả lại, chúng tôi không đếm do nhiều và đủ các môn, đủ các lớp. Hơn nữa ỷ y, coi thường là kỳ thi nội bộ. T́m măi không thấy, xem tờ ghi điểm th́ thấy lớp ấy có ít thí sinh dự thi. Tôi với anh Trung bàn nhau ghi vào tờ điểm mỗi bài mất, điểm trên trung b́nh. Khi xong xuôi tất cả, coi lại th́ thấy tất cả thí sinh dự thi vào lớp ấy đều được nhận vào hết. Lúc ấy mới hết áy náy.

Sau kỳ thi Tú Tài phần 1 lần đầu tiên tổ chức tại Cần Thơ cho học sinh 2 tỉnh Vĩnh Long và Cần Thơ mà tôi làm Thư Kư; Ông Phạm Văn Thuật, giáo sư Pétrus Kư ở Saigon về làm Chủ Tịch. Coi thi toàn là Giáo Sư nhà trường và Thày Cô ở Tiểu Học. Xong xuôi khoảng nửa tháng sau, ông cho mời tôi vào và nói: "Phụ Huynh nhờ tôi (tức là ông) chuyển lời cảm ơn ‘vous’ trong việc dạy dỗ con em họ và trong kỳ thi vừa qua". Tôi nói: " Tôi chỉ làm nhiệm vụ của một thày giáo đối với học sinh”.

Sau một thời gian, một số Giáo Sư trẻ chúng tôi nhận xét thấy ông có tác phong quan liêu, thiếu dân chủ nên chúng tôi bàn bạc rồi làm đơn thưa lên Bộ, trong tinh thần xây dựng mục đích là để ông sửa đổi. Thêm nữa cũng là do tuổi trẻ, mới vào đời thấy những điều trái tai gai mắt, muốn cái ǵ cũng tốt đẹp nên phản ứng. Vụ này kéo dài đến hơn một năm. Anh Vũ Triều tính bất khuất. Anh Bùi Khương tính nóng nảy. Anh Triều Phạm chín chắn thảo đơn, đánh máy và đưa chúng tôi kư, tất cả là khoảng trên 14 người, hai phần ba là những người tốt nghiệp CĐSP do Bộï nuôi và đào tạo. Đồng thời có đưa báo Tự Do, một nhật báo mà độc giả phần lớn là trí thức, đăng liên tiếp 4, 5 kỳ. Chừng hơn một tháng sau khi gửi đơn, ông cho mời anh Bùi Khương vào không biết việc ǵ. Anh kể lại là trông thấy trên bàn trước mặt ông cái bao thư mà chúng tôi đă gửi lá đơn lên Bộ.

Trong những buổi họp hàng tháng, ở phần cuối có mục nêu ư kiến. Chúng tôi phê b́nh ông. Anh nào cũng nói, hăng hái nhất là các anh Tường, Viên, Triều Vũ , Thuận, Bùi Khương. Cũng có vị đàn anh can gián. Có vị nói rằng ông là ngưới cựu trào, có thần thế, quen biết lớn. Tôi nhớ anh Tường thường nói "ông Hiệu Trưởng đeo cái kính mắt cua”, loại kính lăo, mắt kính nhỏ xíu, h́nh bầu dục như mắt cua. Trong một buổi họp, một Giáo Sư phát biểu: "ông Hiệu Trưởng là người làm việc từ xưa, nay đă nhiều tuổi cũng ví như cây tre đă già, có uốn th́ cũng phải từ từ chứ không một sớm một chiều mà thay đổi được”. Anh liền phang ngay một câu: ” Tre tuy già nhưng c̣n uốn được chứ không phải không uốn được “. Có phiên ông giận quá, cắt ngang phiên họp và sách cắc táp ra về. Và cũng có vị bảo với chúng tôi rằng, so với trước ông đă bớt đi nhiều.

Nha Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và BDGD gọi chúng tôi, bằng công địện khẩn, lần lượt từng người về Saigon điều tra và hỏi nguyện vọng. Cuộc diều tra anh Lê Minh Thuận kéo dài đến 2 năm. V́ bị gọi về ngày 28 Tết, hỏi cung suốt một buổi sáng và đến sau Tết lại phải trở lên để làm việc tiếp tục. Cụ Trần Bá Chức là Tổng Gíam Đốc lúc ấy đích thân hỏi chúng tôi và có một vị Thanh Tra ghi chép. Kết cục, chúng tôi cũng lần lượt mỗi người được “hân hạnh” sách va-li đi một nơi, kẻ ra Trung, người ở Nam v́ lư do công vụ. A-lê, đường ra biên giới. Anh Ba Viên đi Ban-Mê-Thuột làm bạn với voi và rừng rú, Bùi Khương đi Quy Nhơn để dễ tham quan trại cùi Quy Hoà. Anh này từ Quy Nhơn sau đổi về Trường Hồ Ngọc Cẩn ; đă bị một vố mà tính nết chưa thuần, vẫn hung hăng xích mích với Hiệu Trưởng An Cư và lại phải khăn gói gió đưa đi Cần Giuộc ….!! Thuậân đi Phan Thiết tha hồ ăn nước mắm, tôi đi Vũng Tàu ăn cá biển, Kha đi Đà-Lạt vui với sương mù giá lạnh và đồi thông 2 mộ, Triều Vũ đi Tây Ninh tha hồ ăn khoai ḿ, Tường đi Phan Rang …. Ngựa non háo đá bị bẻ què gị. Theo binh pháp Tôn Tử "Biết ḿnh, biết người, trăm trận đánh, trăm trận thắng”. Chúng tôi không biết người nên thua. Ông Kính là người có nhiều thần thế lại được sự hậâu thẫn của Đức Giám Mục Ngô Đ́nh Thục. Cái học bổng của Mỹ, Bộ cho và tôi đă kư với Bộ bằng ḷng đi tu nghiệp về pḥng thí nghiệm ở Mỹ một năm mà vẵn có lương (v́ Bộ đề pḥng khi cấp rồi mà không đi) cũng bay mất (học bổng cho từ thời ông Bửu Trí).

Sau 1975, khi đi cải tạo tôi có ở chung với một ông Trung Tá tên V.V. S., ông làm ở bên quân đoàn 4. Ông này nói rằng khi vụ ấy xẩy ra, Quân Đoàn tưởng là do lư do chính trị, cho điều tra, nhưng thấy những người trong cuộc, tuyệt đại đa số là dân "rau muống" và "dân ớt" nên bỏ qua. Một vài phụ huynh mà tôi gặp tỏ ư tiếc về sự ra đi của chúng tôi. Trước khi rời Cần Thơ, ông Ba Thân mời tôi và anh Trung (anh không dự vào vụ này) ăn cơm từ giă ở trên lầu một tiệâm ăn ở Cần Thơ vào một buổi tối. Ông Thân có ư e dè ông Kính v́ Hiệu Trưởng PTG kiêm Thanh Tra các trường tư thục và bán công, kiểm soát và kư duyệt học bạ tư thục trong tỉnh. Tôi rời Cần Thơ vào cuối hè 58-59 và lúc nào cũng coi ông như bậc đàn anh. Sau này tôi không bao giờ được gặp ông nữa. Khỏang năm 1982, anh Thuận (quê ở Vĩnh Long) kể rằng có gặp ông tại Vĩnh Long (ông cũng là người Vĩnh Long) khi ông ra ứng cử trong Liên Danh Bông Huệ của Luật Sư Vũ Văn Huyền vào Thượng Nghị Viện. Ông nói với anh Thuận "việc cũ bỏ qua". Anh Thuận trả lời "việc đă hơn chục năm rồi, tôi không để ư ǵ đến nữa”.

Ra đi mà trong ḷng bùi ngùi lưu luyến. Cần Thơ êm đềm như mặt nước hồ thu, có ḍng Sông Hậu hiền ḥa, có khí hậu mát mẻ, có "gạo trắng nước trong, trái thơm ngọt ngào", thực phẩm rẻ rúng. Thêm vào đó dân t́nh hiền hoà. Phụ huynh học sinh quư trọng giáo chức. Đồng nghiệp PTG tử tế và tốt bụng, đối xử với nhau trong t́nh huynh đệ. Học sinh lễ phép và hiếu học. Nếu không đổi đi th́ có lẽ tôi đă chọn Cần Thơ làm quê hương thứ hai rồi. Nhưng đổi ra Vũng Tàu th́:

"Nước non vẫn nước non nhà"

và tôi tự nhủ biết đâu “tái ông thất mă". Sau, tôi có về Cần Thơ mấy lần trong những kỳ thi Tú Tài I và II và ở trong căn pḥng nhỏ trong trường gần nhà ông Hội Kế. Trở lại nơi trường cũ tỉnh xưa, ḷng không khỏi ngao ngán bâng khuâng. Mọi sự đă đổi thay, các pḥng việc đều dời ra dăy trước. Khác với cảnh thanh b́nh xưa, v́ trường ở sau Quân Đoàn, đường Phan Thanh Giản ở đàng trước trường th́ giăng những ṿng kẽm gai chỉ chừa một lối đi. Pḥng ông Tổng Giám Thị Tài, lính đóng ban đêm, tối có lính nằm kích ở trong trường. Bến Ninh Kiều, căn phố tôi ở trước đă sửa thành nhà ngủ. Cảnh c̣n đó, nhưng người cũ c̣n rất ít và cũng đi chấm thi ở nơi khác. Tôi chỉ gặp được Ông Nhung, Ông Niệm, Cô Kim Chung, Ông Ba Thân. Âu cũng là tang thương biến đổi vậy. 

Viết xong 9-2000 & đă đăng trên Đặc San 2001 CHS PTG&ĐTĐ Úc Châu.

Thêm và sửa lại tháng 12-2003

(1)Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội (École Supérieure de Pédagogie) là tiền thân của trường Đại Học Sư Phạm sau này. Mở từ khi c̣n Pháp đô hộ để đào tạo Giáo Sư Cao Đẳng Tiểu Học (Trung Học). Ngoài Bắc có những vị Giáo Sư như Dương Quảng Hàm, Ông Bà Tăng Xuân An, Trần Văn Việt, Nguyễn Đ́nh Phú (Giám Đốc Nha Trung Học), Phan Thế Roanh, Nghiêm Toản, Vũ Ngô Sán..…... , trong Nam có các vị như Trần Văn Hương, Trần Bá Chức, Đinh Căng Nguyên, Phạm Văn Lược, Nguyễn Băng Tuyết …. xuất thân từ trường này.

Chiến tranh Pháp Việt bùng nổ, trường bị gián đoạn. Đến thời Quốc Trưởng Bảo Đại, trường mở cửa lại xử dụng chung cơ sở và phương tiện của Viện Đại Học Hà Nội (lúc ấy c̣n thuộc Pháp quản lư, Viện trưởng và KhoaTrưởng đều là người Pháp) nhưng trường không thuộc Viện mà trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục Saigon và Giám Đốc là Giáo Sư Nguyễn Đ́nh Huề. Sinh viên được thâu nhận qua kỳ thi tuyển, có nguyệt bổng. Học tŕnh là 2 năm. Trước năm 1954, chỉ thâu nhận có 40 sinh viên mỗi niên khoá.

Khi Hiệp Định Genève được kư kết, trường chuyển vào Saigon.

Khi dọn vào Saigon th́ thuộc việân Đại Học Saigon. Giáo Sư Nguyễn Huy Bảo là Giám Đốc và thâu nhận nhiều sinh viên hơn trước.

Các Giáo Sư Lê Xuân Khoa, Nguyễn Như Cương, Nguyễn Ngọc Văn, Nguyễn Hữu Kế (có thời gian làm Hiệu Trưởng Châu Văn Tiếp, sau Phạm Đăng Cảnh), Bùi Trọng Chương, Lữ Hồ ,Ông Bà Đỗ Minh Tiết, Phạm Mạnh Cương, Tôn Thất Ngạc, Lưu Trung Khảo, Nguyễn Thanh Liêm (Phụ Tá Tổng Trưởng GD) ……….xuất thân từ CĐSP.

Khoảng cuối thập niên 1950, đầu thập niên1960 th́ trường đồi thành trường Đại Học Sư Phạm học tŕnh 3 năm. GS Trương Công Cừu là Khoa Trưởng. Sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng Giáo Sư THĐ2C. Trường có mở thêm hệ cấp tốc 1 năm và tốt nghiệp ra là GSTHĐ1C.

* *

*