Bảo vệ tầm tay

Bạn có biết không, ở trên đời nầy có nhiều điều rất quí trong tầm tay với của ḿnh mà ḿnh không giữ nó được để rồi phải ân hận, hối tiếc?

Chúng ta ai cũng cần có t́nh thương và sự thông cảm của những người chung quanh, đặc biệt là những người thân thuộc trong gia đ́nh; đó là cái t́nh nghĩa vợ chồng, cha con, mẹ con và anh em. Chính những thứ t́nh nghĩa nầy cho ta hạnh phúc hay niềm vui trong cuộc sống. Tuy nhiên những thứ t́nh nghĩa nầy không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của nhiều nỗ lực vun bồi, chẳng khác nào ḿnh trồng cây hoa kiểng cần phải vun phân tới nước mỗi ngày th́ cây hoa kiểng của ḿnh mới được vững bền, xum xuê, tươi tốt.  Tuy nhiên, sự vun bồi t́nh nghĩa để cho ta hạnh phúc khó hơn là việc chăm sóc hoa kiểng, bởi v́, ngoài những món ăn vật chất nó c̣n cần có những món ăn tinh thần, và nhiều khi món ăn tinh thần lại cần thiết hơn là món ăn vật chất nữa!

Ngày xưa việc dựng vợ gă chồng trong truyền thống Việt Nam chúng ta có nhiều khi không phát khởi từ t́nh cảm, mà từ nhu cầu – đó là nhu cầu t́nh nghĩa vợ chồng. Cha mẹ thường nghĩ rằng khi con cái tới tuổi trưởng thành rồi th́ bắt đầu có nhu cầu t́nh nghĩa vợ chồng; cho nên mới có tục tảo hôn, tức là "t́m kiếm hôn nhân" qua sự giới thiệu của người nầy, người khác! Phát khởi từ đó, những cập vợ chồng mới được tác hợp, cũng giống như người ta mới trồng một chậu hoa kiểng trước nhà! Những cập vợ chồng mới chưa có t́nh nghĩa mặn nồng, cũng như cây hoa kiểng kia chưa bén rễ. Thế rồi ngày qua ngày, vợ chồng chung đụng với nhau trong các sinh hoạt đời sống. T́nh nghĩa vợ chồng càng ngày càng phát triển để đưa đến hạnh phúc nếu họ thường xuyên "vun phân tưới nước" bằng các hành động yêu thương, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; bằng những lời nói êm dịu, ngọt ngào và sẵn sàng xin lỗi một cách tự nhiên, chân thành sau cuộc căi vă trong cơn nóng giận! Dịu dàng, thuỳ mị, đoan trang trong cử chỉ là trong lời nói là những đặc tính cao quí của người phụ nữ Á Đông mà tất cả mọi người đàn ông nào cũng trân quí và cần có trong sinh hoạt đời sống vợ chồng hàng ngày. Trong văn hoá Á Đông, bất cứ người chồng nào cũng muốn vợ ḿnh luôn luôn giữ được những đặc tính cao quư đó.

Tuy nhiên, nóng giận và tranh căi nhau là chuyện khó tránh trong quan hệ vợ chồng. Nếu không biết kềm chế hay hoá giải nó th́ t́nh nghĩa vợ chồng sẽ lâm vào t́nh trạng "chiến tranh lạnh" để cướp đi hạnh phúc của chúng ta! “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau". Tại sao ta không có được những lời nói êm dịu, ngọt ngào để được vừa ḷng nhau, nhất là sau những cuộc tranh căi trong cơn nóng giận?

Tranh căi và nóng giận xem ra là hai vấn đề chính liên quan tới hạnh phúc gia đ́nh, cho nên chúng ta thử xét qua thêm một vài khía cạnh có tính cách khoa học và tâm lư của hai hiện tượng nầy.

Thật ra, tranh căi và nóng giận là hai vấn đề rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Có lẽ mọi người ai cũng đă từng tranh cải, hoặc trong gia đ́nh, hoặc với người ngoài, và như vậy chắc ai cũng biết "tranh cải" là ǵ rồi. Tuy nhiên, có ai bỏ ra chút ít th́ giờ suy nghĩ về hành động tranh căi của ḿnh để tự t́m hiểu thêm về nguyên do và hậu quả của nó hay không? Đây là hai khía cạnh then chốt của việc tranh căi cần được bàn thêm trong bài nầy.

Theo các nhà phân tích ngôn ngữ học Lakoff và Johnson (1980:97-98) th́ tranh căi là hành động ngôn ngữ nhằm biện minh hay chứng tỏ sự hiểu biết. Chúng ta tranh căi khi cần diễn tả sự liên hệ giữa sự vật hay ư tưởng mà ḿnh cho là hiển nhiên đối lại với sự vật, ư tưởng mà ḿnh cho là không hiển nhiên. Cái ư tưởng hay sự việc mà ta tự coi là hiển nhiên chính là cái khởi điểm của cuộc tranh cải, và cái ư tưởng mà ta muốn tŕnh bày chính là mục tiêu của hành động tranh căi mà trong tiếng Anh thường gọi là "argument".

Tuy nhiên cái cốt lơi của nguyên do tranh căi là muốn bày tỏ sự hiểu biết của ḿnh, và dĩ nhiên là sự hiểu biết nầy có thể là khác hẵn với sự hiểu biết của người đối tác trong cuộc tranh cải. Thậm chí có người c̣n quyết liệt hơn trong một cuộc tranh căi v́ cho rằng vấn đề ḿnh hiểu biết là "sự thật" nên mới quyết tâm bảo vệ sự hiểu biết của ḿnh trong cuộc tranh căi! Có nhiều trường hợp những lư luận trong cuộc tranh căi hoàn toàn căn cứ vào kinh nghiệm và sự hiểu biết rất có giới hạn của cá nhân, không có ǵ bảo đảm là đúng “sự thật” dựa vào kết quả tương lai. Thí dụ, một người nói: "Anh không bao giờ đ̣i được món nợ đó!”. Đây chỉ là một sự phán đoán về một sự việc mà "sự thật" của nó c̣n nằm trong tương lai. Có nhiều trường hợp "sự thật" xảy ra trong tương lai trái ngược với lời tiên đoán mạnh mẽ như vậy, cho nên người biết thận trọng th́ bao giờ cũng dè dặt, thậm chí phải tránh những lời phán đoán chủ quan như trên.

Hai nhà ngôn ngữ học Lakoff và Johnson (1980:185) nói rằng "sự thật" thường được căn cứ theo sự hiểu biết của cá nhân, và sự hiểu biết của cá nhân th́ lại bắt nguồn từ một hệ thống quan niệm (conceptual system) mà hệ thống nầy phần nhiều là có tích cách liên tưởng hay h́nh dung từ một sự vật để diễn tả một sự vật khác (metaphorical) bởi v́ chúng ta thường không có đủ ngôn từ thích hợp hoặc không muốn trực tiếp v́ sợ mất ḷng người khác trong lúc diễn tả một sự vật hay một ư tưởng của ḿnh, tuỳ theo trong t́nh huống nào đó. Chính v́ vậy, theo hai nhà ngôn ngữ nầy th́ không có một "sự thật" nào hoàn toàn khách quan, vô điều kiện hay là tuyệt đối cả.

Một cái nh́n khoa học cho thấy trong khi "sự thật" bao giờ cũng có tính cách tương đối theo sự hiểu biết cá nhân, nhiều người lại có khuynh hướng tưởng là sự hiểu biết của ḿnh là "sự thật" tuyệt đối. Chính v́ vậy mà họ phải tranh căi để bảo vệ cái “sự thật” theo ư tưởng của ḿnh. Có nhiều khi cường độ tranh căi gia tăng tới mức mà lư trí không c̣n kiểm soát được; lúc đó chính là sự xuất hiện của cơn nóng giận mà nhà tâm lư học Naomi Quinn (1991:62) cho là một sự biểu hiện phản ứng cơ năng để tạo ra các phản xạ bất thường của cơ thể làm xáo trộn các động tác thông thường của con người, để rồi đưa tới t́nh trạng hoàn toàn mất kiểm soát và có thể gây ra sự nguy hiểm cho người khác. Chính v́ lẽ nầy mà cổ nhân ta mới có câu "no mất ngon, giận mất khôn" là vậy.

Nếu chúng ta có một cái nh́n "khoa học" về nguyên do và hậu quả của sự tranh căi dựa theo sự hiểu biết cá nhân như vậy th́ chắc có thể tránh được các t́nh huống bi thương trong cuộc sống hàng ngày. Nếu chúng ta bao giờ cũng nhớ rằng sự hiểu biết của ḿnh luôn luôn có giới hạn và cái "sự thật" trong ư tưởng của ḿnh không bao giờ tuyệt đối, bởi v́ nó chỉ căn cứ vào sự hiểu biết có giới hạn của ḿnh mà thôi, th́ sẽ hạn chế hay tránh được các hành động tranh căi hoàn toàn không đem lại lợi ích ǵ cho ai hết.

Về phương diện lư luận, nếu chúng ta chấp nhận cái đặc tính tương đối của sự hiểu biết cá nhân như các nhà ngôn ngữ học đă nêu ra th́ chúng ta cũng đồng thời chấp nhận rằng không có “sự thật” nào tuyệt đối cả. Vậy th́ tại sao chúng ta lại quyết tâm tranh căi để bảo vệ cái “sự thật” không có ǵ bảo đảm chắc chắn như vậy để rồi có thể lâm vào những cảnh huống bi thương trong cuộc đời? Các cảnh huống bi thương đó có thể là vợ xa chồng, gia đ́nh ly tan, bạn bè xa lánh, căng thẳng tinh thần, bỏ ăn, mất ngủ v.v.!

Về phương diện tôn giáo, theo đạo Phật th́ sự tranh căi chính là một sự biểu hiện của "sân si", tức là tức giận và mê lầm hay u tối. Người ta tranh căi để bảo vệ cái lư căn cứ vào sự hiểu biết luôn luôn có giới hạn của ḿnh. Trải qua những kinh nghiệm trong đời sống, chúng ta thu thập được những sự hiểu biết trong nhiều hoàn cảnh và t́nh huống khác nhau. Nhưng khả năng nhận thức sự vật của mỗi người một khác, tuỳ theo tŕnh độ văn hoá và kinh nghiệm quá khứ của họ. Cho dù một người có khả năng nhận thức cao, có kinh nghiệm “đầy ḿnh" đi nữa, sự hiểu biết của họ vẫn chỉ là sự vay mượn tạm thời, chớ không có cái ǵ là của họ cả! Lư luận nầy dựa theo triết lư "chấp hữu" hay "chấp ngă" của nhà Phật. Thói thường ai cũng nghĩ là ḿnh làm chủ cái nầy, cái kia, về vật chất như nhà cửa, thân xác, vợ chồng, và tinh thần như ư kiến, sự hiểu biết, kinh nghiệm v.v. Theo triết lư Phật Giáo th́ tất cả những cái mà mọi người cho là của ḿnh đó đều là không có thật và không có tính cách thường hằng. Không có thật bởi v́ mọi sự vật thể đều được cấu tạo bằng nhiều yếu tố thu góp từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Chúng ta có thể h́nh dung những cái được tự cho là "của ḿnh" về ư tưởng cũng như về vật chất, như ư kiến, sự hiểu biết, cái nhà, cái xe, và kể cả cái thân xác của ḿnh, không có cái nào tự nó hiện hữu cả và không có cái nào thực sự là của ḿnh!

Ư kiến hay sự hiểu biết, như trên đă đề cập, chỉ là một tập hợp của nhiều yếu tố do kinh nghiệm quá khứ góp nhặt từ nhiều nguồn gốc khác nhau. Như vậy tất cả các ư kiến hay sự hiểu biết cá nhân không phải là của một cá nhân nào, cũng không phải tự nó có danh xưng, h́nh tướng như vậy. Nếu không có các yếu tố tạo thành th́ trên đời nầy không có cái ǵ gọi là "ư kiến" hay "sự hiểu biết", không có cái ǵ được gọi là "cái nhà", "cái xe" hay cả "cái thân" của ḿnh! Cái nhà là do sự kết hợp của nhiều thứ vật liệu khác nhau, cái xe cũng vậy. C̣n cái "thân" của ta cũng chẳng khác ǵ, v́ theo nhà Phật th́ nó được tạo nên bởi bốn yếu tố căn bản: đất, nước, gió, lửa! Bởi vậy bốn yếu tố nầy luôn luôn có mặt trong thân thể của ta. Một khi có một trong các yếu tố yếu đi th́ cơ thể ta không được khoẻ mạnh, tức là bệnh hoạn. Và tuỳ theo mức độ suy yếu của các yếu căn bản đó, người ta có thể đi đến tử vong.

Tóm lại, bao nhiêu lư luận dài ḍng ở trên nhằm đưa đến những kết luận về sự bất hợp lư của hành động tranh căi và về hậu quả tai hại của nó. Bất hợp lư là v́ sự tranh căi là để bảo vệ những ư kiến do sự hiểu biết mà người ta tưởng là thật, nhưng không có thật, và đặc biệt là không có thật của một cá nhân nào. Cái bất hợp lư của việc tranh căi là ở nỗ lực bảo vệ cái không có thật, và không phải của ḿnh! Cái bất hợp lư của tranh căi là hậu quả của nó đưa đến những bi thương làm cho con người không được hạnh phúc chớ không có lợi ích ǵ cả! Vấn đề có thể đặt ra ở đây là người "thắng" trong cuộc tranh căi được lợi ích ǵ? Và người thua mang hậu quả ra sao? Trong một cuộc tranh căi chắc phải có người thắng kẻ thua, không biết có những cái lợi ǵ cho ai, nhưng điều mà chắc ai cũng biết là hậu quả của sự tranh căi bao giờ cũng đem lại những cảnh huống đau thương, tuỳ theo mức độ, như mất t́nh cảm bạn bè, căng thẳng thần kinh, gia đ́nh không hạnh phúc và có thể đưa đến sự ly tan.

Tuy nhiên, làm sao ta tránh được tranh căi? - Chuyện dễ mà cũng rất khó: Nếu chúng ta nhớ rằng tất cả những ǵ mà ḿnh tự cho là "có" đều không thật và không thường hằng. Nhất là những thứ vô h́nh như đă tŕnh bày, đó là ư kiến và sự hiểu biết; tất cả đều không thật, không phải là của ta, không tồn tại vĩnh cửu. Nếu nghĩ như vậy th́ chắc ḿnh không cần phải tranh căi làm ǵ! Cái khó không chỉ nằm trong sự hiểu biết hay ư thức, mà trong sự thực hành. Ai làm được th́ người đó thắng, thắng với chính ḿnh không phải là chuyện dễ làm nhưng nó sẽ bảo vệ được hạnh phúc trong cuộc đời. Cái hạnh phúc đó nằm trong tầm tay của mỗi người. Chúng ta có bảo vệ nó được hay không là do ư thức thực tế: bảo vệ cái ḿnh đang có trong tầm tay; đừng bảo vệ cái không thật mà ḿnh tưởng thật là của ḿnh!

Thiện Nhân

Melbourne, 29/11/2003