Phan Thanh Giản, Tôi Còn Nhớ

Gs. Trần Văn Dinh

 

LTS. Tôi vừa nhận được bài nầy của thầy Dinh (thầy dạy Lý Hoá của tôi năm đệ lục). Trong email thầy có ghi 'tuỳ các em sử dụng' nên tôi mới mạnh dạn đưa lên trang nhà PTGDTD để mọi người cùng thưởng lãm cái tài 'nhớ dai' của thầy. LTP.

 

Xin được mào đầu như thế nầy. Số là vài hôm ‘sau khi gặp lại’, em Trạng có đến thăm chúng tôi và biếu một số ĐS. Em cho biết nhóm Úc Châu sẽ phát hành số mới và xin tôi nếu được viết cho một bài về trường, các thầy, hay học trò gì đó. Tôi nghĩ là có thể làm được nên hứa: “Tôi sẽ cố gắng”. Độ 10 hôm sau, tôi nhận được bài PTG, Những Ngày Kỷ Niệm của anh Thắng, tôi ‘nhợn’ ngay. Anh viết hay quá! Trí nhớ của anh phi thường quá, lại thêm anh có lắm kỳ duyên, còn tôi thì có gì đâu để mà viết. Tôi định chạy làng. Sau đó tôi gởi cho em Trạng bài Java, Tết Tha Hương coi như bù lỗ cho em. Dầu thế, trong đầu vẫn còn ám ảnh một món nợ!

 

Tuần rồi lại được em Viện gởi cho vài cuốn sách trong đó có cuốn Trường Xưa Trong Trí Nhớ. Lướt sơ qua, tôi quyết ‘thí mạng cùi nhắm mắt qua cầu’ trước là để đáp lại lòng tốt của nhiều em và sau là biết đâu ai đó mua vui cũng được một vài phút giây!

 

Qua Phan Thanh Giản, Tôi Còn Nhớ, nháy ý bài viết của anh Thắng, tôi cố ghi lại những gì tôi may mắn nghe-thấy-biết được mà có thể người được tôi nghe-thấy-biết không ngờ. Đôi khi chỉ là những suy đoán vớ vẩn của riêng mình. Thực ra tôi còn nhớ khá nhiều nhưng phần lớn không có gì để nói. Xin đùng nghĩ là tôi quên.

 

Trong cái nghiệp ‘gõ đầu trẻ’ tôi đã chính thức qua 3 trường công và cũng dạy lẻ tẻ 1 vài trường tư sau nầy khi về Saigon. Trường PTG là trường đầu tiên khi tôi bắt đầu cái nghiệp với bao non trẻ của kiếp thầy ‘so’. Tôi đạo từ nầy của 1 em học sinh email nhận ra tôi. Em nhận là học trò ‘so’ của tôi vì tôi về PTG năm 1959 và em học ngay với tôi năm đó. Tôi liên hệ đến người đàn bà chửa con so, kinh nghiệm chả có, nghe thế nầy nghĩ thế nọ, lo lắng nhiều nhưng ao ước tự tin cũng lắm. Đó là tâm trạng của tôi ngày ấy. Tôi thấy mình như thầy ‘so’ là như thế đấy! Tôi thích từ nầy mặc dù sự liên hệ của tôi không xác đáng lắm!

 

Tôi còn nhớ tôi đến Cần Thơ 1 tuần lễ trước ngày khai giảng niên học 1959-60. Tôi đi xe thơ Thiên Tân khởi hành khoảng 2 giờ sáng từ bến xe An Đông. Đây là chuyến đi xa đầu tiên trong đời. Tại bến xe, tôi rất ngạc nhiên khi thấy các anh hùng đứng bến la hét và dành giật hành khách. Xuống xe cyclo máy chưa kịp trả tiền thì chiếc va-li đã bị giật. Tôi la lên là tôi có vé xe Thiên Tân mới dành lại được. Xe ra khỏi Phú Lâm chưa bao xa thì dường như mọi người đã đi vào giấc ngủ chỉ còn lại mình tôi. Bên ngoài tối đen, không khí đêm mát rượi, tôi muốn ngủ nhưng không chợp mắt được. Cuộc hành trình khá thú vị, nhất là quang cảnh 2 đầu bến bắc. Đèn manchon sáng choang, sinh hoạt bán buôn nhộn nhịp và dòng người hối hả ngược xuôi. Mỗi lần qua bắc, để an tâm, tôi không theo dòng người mà cố lon ton chạy bám theo xe, xe xuống tôi xuống xe lên tôi lên. Bắc Cần Thơ lớn quá, đến bên nầy trời còn tối sang đến kia đã hừng đông.

 

Từ bến xe Cần Thơ, tôi đi xe lôi về nhà ông đốc Thạnh ở đường Phan Thanh Giản, nơi tôi được gởi gắm để tạm trú. Lại 1 kinh nghiệm mới. Tôi liên tưởng đến xe kéo tôi từng đi ở Saigon khi còn nhỏ, tôi cười thầm, thế là sự khác nhau giữa ‘lôi’ và ‘kéo’!

 

Nghỉ 1 ngày lanh quanh xem thành phố. Sáng hôm sau tôi vào trình diện Ban Giám Hiệu trường PTG. Gặp ông HT Nguyễn văn Kính, tôi vô cùng ngạc nhiên và đột nhiên tôi thốt lên 2 tiếng ‘thưa thầy’. Ông Kính cũng ngạc nhiên nhưng rồi ông cảm nhận ra mối quan hệ nào đó giữa ông và tôi. Rồi ông có vẽ quan tâm và hỏi tôi về vấn đề nơi ăn chốn ở. Trong đối thoại, ông xưng ‘qua’ và gọi tôi bằng ‘em’. Tôi gọi ông bằng ‘thầy’ và xưng ‘em’. Lúc chào ông đi ra, ông căn dặn: “Nếu có gì khó khăn, cho qua biết”. Thực ra, tôi chưa bao giờ được học với ông. Ông làm Hiệu Trưởng trung học Petrus Ký khi tôi còn học ở đó. Với 2 tiếng ‘thưa thầy’ tôi đã được sự quan tâm của tình sư đệ. Đó là lần duy nhất tôi tiếp xúc với ông trong suốt thời gian tôi phục vụ tại PTG. Mặc dù sau đó, qua thầy Giỏi, ông kêu tôi vào trường ở, khuyến khích tôi chơi tennis và gởi cho mớ banh để tập.

 

Tại phòng HT, tôi gặp cô Đào. Đối với tôi, cô Đào đẹp lắm. Cô có đôi mắt to đen sáng, người tầm vóc với y phục và trang điểm trang nhả. Sau nầy vào trường ở, nghe anh em kháo nhau về cô với lời phán của người xưa. Thực ra đây là cách gián tiếp khen cô đẹp và ngạc nhiên tại sao ở tuổi đó mà cô chưa lập gia đình. Không bao lâu sau, tôi không thấy cô ở trường nữa. Hỏi ra thì biết cô đã vào tu viện!

 

Gặp ông GH Nguyễn Cao Thăng, ông niềm nở đứng dậy bắt tay tôi, rồi nhìn xuống mảnh giấy trên bàn và hỏi: “Vous êtes Monsieur …? Tôi ngỡ ngàng xưng tên. Rồi dường như ý thức được sự vô tình nói tiếng Pháp của mình, ông cố gắng nói tiếng Việt. Dáng người ông tầm thước phúc hậu, Giọng nói rất chân tình cởi mở. Ông hỏi tôi muốn dạy môn gì. Tôi thật thà đáp: “Xin cho tôi dạy toán-lý-hóa lớp nhỏ”. Ông vui vẻ đứng dậy vỗ vai tôi và kéo tôi ra gặp thầy Em. Thầy Em trông nghiêm nghị khắc khổ, mở miệng là dạ thưa, rồi 1 điều ‘giáo sư’ 2 điều ‘giáo sư’ khiến tôi thấy nhồn nhột làm sao! Sau khi trao đổi một lúc, thầy Em cho biết tôi se đảm trách môn lý-hóa lớp Đệ Thất và Đệ Lục.

 

Khi ra về, tôi thấy lòng thanh thản vì an tâm cái khâu ‘quan trên trông xuống’, chỉ còn lo việc ‘người ta trông vào’. Dọc theo hành lang, nhìn trái phải trước sau, tôi thấy trường bề thế quá với kiến trúc xưa thời Pháp thuộc như Pétrus Ký, Gia Long hay Nguyễn Đình Chiểu mà tôi đã biết. Tôi cảm thấy may mắn và tự hào khi được về đây. Thế là ngôi trường PTG in đậm trong tôi!

 

Cách đây độ 6 tháng, con gái tôi về Việt Nam đi du lịch xuống Cần Thơ. Nó tìm đến ngôi trường xưa ba nó dạy. Nó hỏi nhưng chẳng ai biết gì về ba nó! Nó xin chụp vài tấm ảnh gởi tôi. Trường trông thảm nảo quá. Vẫn còn hình hài củ nhưng với cái tên mới, Châu Văn Liêm! Tôi cố moi óc, nhưng không sao có được mảy may ký ức nào về nhân vật văn học lịch sử nầy! Nhìn xuống bên dưới tên trường, tôi thấy tên đường cũng khác, Xô Viết Nghệ Tĩnh! Tôi ý thức đôi điều, tôi gục đầu ngậm ngùi thương tiếc tiền nhân!

 

PTG là nho sĩ lỗi lạc phi thường của Miền Nam và là bực ‘dân chi phụ mẫu’ tài đức hiếm có của đất nước. Ông vượt lên trên đức độ ‘tiên thiên hạ ưu hậu thiên hạ lạc’, ông chết một cách phi thường, ông tuẫn tiết! Tuẫn tiết là khí phách can đảm phi thường, không sợ kẻ thù nhưng nghĩ đến sinh linh quần chúng. Cái chết của ông làm cho toàn dân rơi lệ và hùng khí chống Pháp thêm sôi sụt!

 

Tôi còn nhớ anh Lê Khánh Duệ, Tổng Giám Thị. Tướng người cao lớn, oai phong lẫm liệt. Dạy tiếng Anh, nhưng khi nói chuyện lúc nào cũng toa-moa với đám trẻ chúng tôi rất thân mật. Năm 1969/70, tôi rất ngạc nhiên khi gặp anh làm việc cho Asia Foundation tại Saigon. Anh cho tôi khá nhiều sách để học tiếng Anh.

 

Tôi còn nhớ ông Nguyễn Văn Dưỡng mà nhiều người gọi ông Huyện Dưỡng. Tôi nghĩ có lẻ trước kia ông từng làm quan huyện. Tướng ông cao lớn dềnh dàng, giọng nói oang-oang. Có lần tôi được xem ông chơi bi-da ở tiệm bi-da bên cạnh nhà ông. Ông rất vui tính thường vừa đánh vừa ‘phân trần’, đôi khi vặn người huơi cơ ép-phê thật buồn cười! Chính ông là người xác nhận với tôi chuyện ma trong trường. Một buổi tối, ông vào trường làm việc. Tôi hỏi chuyện ma có thật không thì được ông kể: ”Ngày xưa có vị thanh tra, ông nói tên nhưng tôi không nhớ, đến và nghỉ qua đêm ở trường. Ông máng cái nón cối lên móc trên tường. Ông xoay lưng, nón rớt xuống. Ông quay lại máng lên, xoay lưng nón lại rớt, và cứ liên tục như thế nhiều lần …”. Rất tiêc là tôi quên hỏi ông là sau cùng vị thanh tra để cái nón ở đâu! Chuyện ông kể có ảnh hưởng đến tôi. Tôi không tin có ma nhưng đôi lúc lại sợ ma. Trong 1 lần trực đêm, thời Thanh Niên Cọng Hòa, lại vào dịp hè nên trường vắng hoe. Nằm trên ghế bố cạnh cầu thang dãy giữa tôi thấy sờ sợ. Thế là mỗi lần chợp mắt là tôi thấy 1 cụ già râu tóc bạc phơ cuối hành lang bên phải hiện ra rồi từ từ tiến lại … tôi cố la hét vùng dậy nhưng không được. Thế là tôi bị ma đè, mệt gần chết. Sau cùng tôi bỏ trực về phòng mới ngủ được! Ông Dưỡng xưng với học trò là “qua” như ông Kính nhưng âm “quơ” ông phát rất rỏ và mạnh không giống như đa số người Miền Nam nên tôi nghe nó là lạ. Sau đó tôi nghe trong học sinh tếu: “Hôm qua qua nói qua qua mà qua không qua. Hôm nay qua không nói qua qua mà qua qua!” Chúng ám chỉ hai ông hay còn ai nữa, hay đây là đặc sản Cần Thành?

 

Tôi còn nhớ ông Lâm Văn Giỏi. Nhà ông ở trong trường kế bên hành lang bên trái khu trường lớn. Tôi nhớ ông nhiều trong vai trò phát ngân viên. Ông làm việc rất du di thoái mái, không những phát lương ban ngày mà cả ban đêm và còn ứng lương và ngay cả cho mượn lương nữa! Ông ít ở văn phòng nhưng muốn biết ông ở đâu thì cứ hỏi anh Niệm làm ở phòng ông. Ông thường gọi anh em trẻ chúng bằng chú và xưng anh. Khi tôi đưa thiệp báo tin đám cưới của tôi. Ông mở ra xem và nói: “Tên nầy ngộ nha”. Rồi ông đề nghi: “Hay là mình tổ chức một bửa tiệc ở đây”. Tôi im lặng, ông tiếp: “Chú đừng lo, không thiếu đâu, nội anh em ở trường cũng dư sức rồi. Anh lo hết cho.” Tôi vẫn im lặng!

 

Tôi còn nhớ anh Lưu Khôn. Nghe anh giỏi Hán Việt, rồi thấy tên anh, tôi nghĩ có lẻ anh có gốc Hoa. Thời gian chưa đầy 4 năm ở đó, tôi chứng kiến anh làm 1 lèo từ GS lên GH rồi HT. Năm 1967, trở lại Cần Thơ, tôi thấy anh lên dạy luôn trên đại học! Anh hiền và rất tốt với tất cả mọi người. Trong thời gian anh làm GH, có tổ chức thi lục cá nguyệt mỗi môn cho mỗi cấp lớp cùng một lúc. Tình cờ nghe anh tranh luận với vài GS môn Việt Văn, ở một góc ngoài hành lang, câu hỏi về từ đồng âm. Các anh GS người Bắc thì chú trọng theo chữ viết còn anh thì theo phát âm. Tôi tâm đắc với anh, vì đồng âm thì phải theo cách phát âm, rồi còn ở vùng nào nữa mới được. Miền Nam thì quá thoái mái cái đuôi, Miền Bắc thì cởi mở cái đầu, còn Miền Trung thì nghe ngang ngang khúc giữa. Tôi nghĩ thế nhưng không giám xen vào, chỉ dựa cột mà nghe!

 

Tôi còn nhớ anh Đào ngọc Tứ và Dương Minh Khuê. 2 anh trang lứa chúng tôi. Trong khi chúng tôi còn mắc cở chuyện lứa đôi thì 2 anh đã đủ bộ bầu đoàn thê tử. Tôi cho rằng 2 anh khôn, trước sau gì rồi …, làm sớm nghĩ sớm! Sau 75 khá lâu, trong lúc vất vả tìm vinh quang trong lao động, tình cờ gặp lại 2 anh. Tôi gặp Anh Khuê trước nhà anh ở đường Nguyễn Kim, mặc dù không bị cung ‘ngụy quan’ nhưng cũng xanh xao vàng vọt tuột dốc trên con đường tiến lên CNXH. Tôi gặp Anh Tứ trước 1 khách sạn đường Lê Lai, trông anh có vẽ tri thời tri túc tri nhàn. 2 đứa uống café ở vệ đường. Qua anh tôi biết được tin tức một số bạn bè.

 

Tôi còn nhớ 2 anh Phan Thanh Thư và Nguyễn Duy Tại. 2 anh có lẽ gốc nhà lành chưa bao giờ đụng chạm đến bạc bài, thấy tụi nầy chơi dì-dách, muốn nhập cuộc nhưng e-dè nên chỉ chầu rìa, ăn ké. Anh Thư khá liều lĩnh còn anh Tại thì mười họa năm khi. Thua hay thắng liên tiếp vài ván, anh Thư đều cười lên hô hố rồi chạy đi lấy violon kéo vài khúc diển tả nội tâm! Anh em bảo, lúc anh Thư xin dạy nhạc, có người nói với cụ Thăng, anh Thư là cháu của cụ Phan Thanh Giản, cụ Thăng xướng quá nhận ngay. Tôi nghĩ anh em thấy cụ Thăng thật thà dễ tin nên gạt cụ, không ngờ giờ lại là sự thật, tôi vẫn nghi! Anh Tại thường thích thú theo dỏi để bình luận Mao Tôn Cương hơn là nhập cuộc. Nhiều người biết anh Tại có tài sắp thời khóa biểu, nhưng ít ai biết anh có biệt tài kể chuyện tiếu lâm và anh có 1 bồ chuyện tiếu lâm trong bụng. Anh thích kể, tôi mê nghe. Nhiều khi tôi biết anh phịa nhưng tôi vẫn thấy hay và vẫn thich nghe. 2 đứa tôi như Bá Nha với Tử Kỳ.

 

Tôi còn nhớ anh Võ Văn Phi và anh Nguyễn Văn Danh. Anh Phi thấy anh em chơi dì-dách, anh thường thập thò ăn ké. Dường như anh thường thua hơn được nên có một lần, ngay phát ăn ké đầu tiên anh được, anh xướng quá nói tiếng Tây: “Un seul coup qui conque”. Nghe đâu anh Phi ngày xưa ở Cao Miên học chương trình Pháp nên vẫn còn thói quen nói tiếng Tây. Anh không những hút pipe mà chơi collection pipe nữa. Có dư chút ít tiền là anh tìm mua pipe. Sau 1975, anh vận dụng kiến thức khoa học làm hộp quẹt điện xài dầu hôi rồi đạp xe lon ton đi bán. Sản phẩm ra đời rất đúng lúc khi mà hộp quẹt quốc doanh 10 que diêm chưa cháy một. Nhưng khổ nổi phải có ổ điện mới xài được mà điện thì cúp triền miên, đúng là có tài mà không gặp thời! Tôi định hỏi anh về collection pipe của anh nhưng sợ anh buồn. Tôi nghĩ giá mà anh có collection điếu cày! Tôi quen anh Danh lúc anh về Cần Thơ. Anh coi tôi như em có lẻ vì nhận ra tôi là bạn của em vợ anh, bà con bên vợ vẫn hơn! Anh rất hiền lành, không thuốc lá rượu chè gì cả nhưng nhạy bén trong cuộc sống. Anh và anh Phi đều lảnh hội tốt bài học mới, lao động là vinh quang. Nhưng khi xử dụng thành quả lao động thì có khác, do đó anh trước vẫn ngất ngư còn anh sau phất quá trời! Anh Danh thấy thị trường xi-măng rất khan hiếm, trong khi xi-măng ‘bao cấp’ chết cứng như tảng đá chất hàng núi vứt bỏ đó đây. Anh vận dụng kiến thức khoa học làm ra cái máy dập-sàng-rây-lược để đưa các khối xi-măng đó qua các công đoạn nầy mà trở lại thành bột. Thế là các cơ quan nhà nước và quân đội ì-xèo chở xi-măng tảng đến và chở về 50% trọng lượng bột, phần anh được 50%, khỏe re! Các con buôn mua bột xi-măng nầy pha trộn với xi-măng nguyên chất thành xi-măng xịn cung cấp cho thị trường! Rồi cũng như thế, anh lại hợp tác với bạn bè sản xuất que hàn điện bán ra thị trường cũng chạy như tôm tươi, lại khỏe re! Rồi có lẻ quá lao tâm và lao lực, anh vương nhiều thứ bệnh, áp huyết cao, tiểu đường, … Bác sĩ cấm anh ăn uống tùm lum thứ. Có tiền mà không ăn được có lẻ còn khổ hơn không có tiền để ăn! Anh chán nản chả muốn làm ăn gì nữa. Anh thường tìm tụi tui, mấy thằng ‘mất dạy’ đang tìm vinh quang trong lao dộng, bỏ tiền bao tụi tôi ăn để anh nhìn! Thế là chúng tôi ăn và anh sung sướng ngồi nhìn! Đôi lúc nhìn anh cười mà tôi muốn khóc!

 

Tôi còn nhớ anh Nguyễn Xuân Thành và anh Nguyễn Tử Quốc Hùng. Cả 2 anh đều ở trong trường và sau nầy đều qua ngoại giao. Anh Thành rất hiền chỉ biết dạy và học. Anh gọi tôi bằng “bồ”. Anh rất kỷ luật về giờ giấc. Mỗi tối, trước 10 giờ là xuống đánh răng rữa mặt, trở lên phòng đúng 10 giờ là tắt đèn ngũ, nhật nhật y như thử! Anh Hùng là bạn học với tôi ngày xưa ở Pétrus Ký. Anh học giỏi lắm, nhất là toán-lý-hóa. Anh đậu Trung Học năm Đệ Ngủ. Anh lên Đại Học khi bạn bè nhiều thằng còn bì bỏm Tú Tài 1 chưa xong. Khi gặp lại nhau ở Phan Thanh Giản tôi không ngờ anh lại là GS Pháp văn. Anh tâm sự: “Moa có thằng bạn học Philo ở Chasseloup cho mượn sách Philo đọc chơi. Moa đọc chơi rồi moa mê thiệt. Moa học Pháp văn để đọc Philo!”. Tôi còn nhớ, những ngày Chủ Nhật, anh thường mang sách ra lớp ngồi đọc cho mát. Có lần anh bỏ quên 1 cuốn sách trong lớp học. Anh nhờ vị giám thị lớp đó hỏi xem có em nào nhặt được cho anh xin lại. Kết quả chả có ai nhận. Anh than: “Rất tiếc là moa chưa đọc xong. Nhưng chắc rồi nay mai tụi nó se trả lại, chả mấy người đọc được huống hồ gì tụi nó”. Thực vậy, khoảng 1 tuần sau cuốn sách được trả lại chổ củ. Một cuốn sách Pháp văn dài vài trăm trang mà tác giả viết một thỏi từ đầu đến cuối chả có chấm phết gì cả! Anh cũng kể là ngày xưa ông cụ có quen một ông thầy lấy số tử vi rất giỏi, mỗi lá số cho cả một cuộc đời, đúng y chang. Tôi liên tưởng đến chữ ‘Tử’ trong tên anh và đoán ngầm nhưng sau đó nghĩ thấy mình sai khi anh sang Ngoại Giao. Sau nầy nghe anh là GS ĐH Luật ở Canada, tôi lại nghĩ đến lá số tử vi.

 

Tôi còn  nhớ anh Phùng Quang Lộc và anh Võ Văn Lợi ở nhóm nhà ngoài.Tôi rất thích 2 anh vì nghĩ là 2 anh có cùng quá khứ bụi như mình, học thì học mà hoang thì hoang! Anh Lộc tếu rất hay và anh Lợi chưởi thề nháy giọng Bắc Kỳ rất “sec”. Anh Lộc có nhiều biệt tài lắm, nghe đâu anh có thể ngồi ngũ trong lớp mà học trò không biết, nghe đâu anh có thể chấm bài bằng double décimètre, không biết có thật không? Chúng tôi cùng bị gọi nhập ngũ khóa 16 Thủ Đức và tan hàng từ đó. Sau nầy, tôi gặp lại anh Lợi khi anh đang làm cò phó cảnh sát Quận 4. Chúng tôi hẹn nhau một chầu lẩu mắm quán Hai Cây Dừa nhưng để rồi không bao giờ thực hiện được! Gần đây, khi nghe tôi đến định cư ở Melbourne, anh Lộc rất mừng, anh nói: “Anh em mình thuôc về thành phần những người đại phước mới còn sống sót sau cơn đại hồng thủy”. Qua mail tôi thấy văn phong anh vẫn còn phảng phất cái tếu ngày nào. Anh không quên nhờ 2 em Nguyễn Công Danh và Hồ Trung Thành giúp tôi tìm lại người xưa!

 

Tôi còn nhớ anh Mạc Kỉnh Trung. Anh vui tính, tế nhị và khéo léo trong giao tế nên được cảm tình với tất cả từ ban Giám Hiệu, đồng nghiệp đến cả học sinh. Có lần tình cờ thấy chữ ký của anh rất rỏ 2 chữ ‘trungdung’, tôi nghĩ chắc anh theo đạo ‘trung dung’ nên khéo xử thế, nhưng có bạn nói, không phải thế, Dung là tên người em trai anh bị tử nạn máy bay. Tôi ghi nhận nhưng còn phân vân. Rồi có một lần, lại tình cờ, nghe anh kể một chuyện rất hay, đốt sắp thư tình. Vì không nghe được phần đầu tôi không biết ai đốt, chỉ nghe được từ lúc xếp thư, đếm thư rồi ngậm ngùi bỏ vào lò đốt từng lá thư một trong ánh lửa bập bùng!

 

Tôi còn nhớ anh Nguyễn Nhung Địch. Anh Địch cao lớn trắng trẻo đẹp trai lắm. Tên anh nghe hay hay lạ lạ. Tôi hỏi, anh phân trần: “Hay mẹ gì, ‘nhung’ và ‘địch’ đều có nghĩa là mọi rợ. Theo anh, ngày xưa, người Trung Hoa  chỉ coi Trung Quốc ở giữa là văn minh còn các nước xung quanh toàn là mọi r và họ dùng nhiều từ khác nhau để chỉ các nước mọi rợ nầy, chẳng hạn như Bắc Địch, Tây Nhung, rồi Nam Man … Nam Man là Việt Nam 4.000 văn hiến của chúng ta, thế mới bố láo! Tôi cũng thấy nhoi nhói nơi lồng ngực, nhưng quên hỏi anh hà cớ ông cụ lại đặt tên anh như thế! Rồi cơn giận làm tôi quên luôn không hỏi anh về nhóm mọi của một phương còn lại. Sau nầy tôi có hỏi nhiều người nhưng đa số chỉ biết tới Nam Man là cùng. Tôi tự an ủi, có lẻ là Đông Tà, vì ở đó còn ghê rợn hơn man rợ nhiều, hở hở là mọc mắt, cắt lưởi, khất nhượng!

 

Tôi còn nhớ anh Nguyễn Khoa Tuấn. Anh là nhà giáo rất lương tâm, luôn luôn chuẩn bị bài vở rất chu đáo. Nghe đâu mỗi lần dạy một bài mới, bao giờ anh cũng tập dượt trước nhiều lần nên bài giảng bao giờ cũng đúng theo thời lượng. Anh rất thân với đám trẻ chúng tôi. Anh có giọng nói trầm trầm tĩnh tĩnh rất có duyên nhất là khi anh tếu. Anh tếu để người nghe cười chớ anh không cười. Tôi nghĩ giá mà anh là kịch sĩ thì chắc thành công  hơn nhiều. Anh nói chơi như thật. Cụm từ ‘Trần Đứt Phanh’ qua mồm anh thì mới đi hết chiều sâu!  

 

Tôi còn nhớ anh Nguyễn Văn Chương, võ sĩ đai nâu Judo. Anh rất vui tính và năng nổ. Có lần anh và anh Thắng khoe tài xem tướng. Anh Thắng thì tướng mặt còn anh Chương thì tướng ngón tay, mỗi người một cách 10 phân vẹn 10! Một hôm anh Chương phân trần với tôi: “Nam ‘văn’ nữ ‘thị’ là thường. Tên moa là Vân Chương kia thế mà ai cũng gọi moa là Văn Chương”. Tôi nghĩ có lẻ chữ ‘Văn’ thì có nghĩa hơn nhưng không dám cải. Rất tiếc tôi quên hỏi trong giấy tờ thực sự viết là Vân hay Văn!

 

Tôi còn nhớ anh Nguyễn Thành Long và anh Phạm Duy Khiêm. Anh Long tóc quăn dợn sóng, trắng trẻo đẹp trai nhưng hơi rộng khổ 1 tí. Anh vui tính cởi mở và thích đùa. Thời Thanh Niên Cọng Hòa, tất cả anh em được chở đi khánh thành khu trù mật Vị Thanh Hỏa Lựu bằng xe nhà binh. Đoạn đường khoảng 60 km lồi lõm đất đá, xe trồi lên hụp xuống mệt gần chết thế mà anh Long vẫn đùa, lúc làm hành khất đại hiêp lúc nhảy vũ điệu Ông Tề. Anh em mãi lo cười mà quên phần nào đoạn đường khổ ải! Năm 1970 gặp lại anh ở Saigon. Anh đưa tôi vào dạy thêm tại một trung tâm lớp đêm do anh điều hành. Anh Phạm Duy Khiêm con người bề thế khổ đôi. Khi mới về Cần Thơ, anh đem theo scooter Lambretta 175, sau mang luôn cả xế hộp DS19. Anh Khiêm gọi tôi bằng tên và coi tôi như em, có lẻ cùng là dân vùng bến tàu Saigon. Lại cũng thời Thanh Niên Cọng Hòa, tôi bắt cặp với anh khi thực hành bắn súng trường Garant M1, thay phiên nhau làm xạ thủ và trợ xạ thủ. Người ta dạy là phải nín thở lấy đường nhắm rồi mới siết cò. Anh chả nín thở gì cả, cứ phì phò thế mà vẫn gần trúng hồng tâm! Sau 1975 gặp lại anh ở Khánh Hội, tôi thấy anh đã hẹp khổ đi nhiều, chân mang dép nhựa phế thải, đạp chiếc xe dạp cà tàng … Anh cố cười … buồn! Tôi nghĩ đến ngày xưa của anh, tôi thấy thương anh quá đến nỗi quên cả thương cho chính mình!

 

Tôi còn nhớ anh Phạm Văn Đàm, người láng giềng gần. Trước khi anh về trường, ông Kính đã bóng gió về anh. Ông nói, nhiều trường lớn ở Saigon muốn kéo anh về thế mà ông ‘xin’ được. Tôi biết ông Kính thế lực lắm và anh là nạn nhân, thay vì ở Saigon anh phải khăn gói quả mướp về Cần Thơ. Nhưng may mắn, đất lành chim đậu! Anh là ngoại lệ của câu thơ bất hủ “Good fences make good neighbors”. Anh rất tốt và bao giờ cũng sẳn nụ cười trên môi. Anh có dáng đứng ‘khiêm nhường’ hiếm có mà mãi đến ngày nay tôi vẫn còn nhận ra anh trên các ĐS dù anh xen lẫn trong đám rừng người. Anh và tôi là láng giềng chung vách nhưng rất tiếc anh không là giai nhân! Sau khi biệt phái trở lại BGD, tình cờ tôi gặp lại anh và được biết anh đang làm Hiệu Trưỏng Trung học Nguyễn Trãi. Tôi cho anh biết nhà tôi gần trường Nguyễn Trãi và tôi cố xin về đó. Tôi được như ý nguyện và tôi tin chắc là có sự giúp đở của anh.

 

Tôi còn nhớ anh Trần Đức Thắng, nhớ quá nhiều. Anh Thắng là người bạn chung phòng và thân nhất của tôi trong thời gian gần 4 năm tôi phục vụ tại trường PTG – CT. Tôi và anh cùng tuổi nhưng khác nhau về bachground, anh con người văn học còn tôi gốc bụi đời. Thế mà càng sống gần nhau lâu càng thích nhau hơn, một phần có lẻ do cái trái ngược của nhau. Kể về anh chắc phải mất nhiều trang nên xin kể một vài hình ảnh vui vui mà tôi không bao giờ quên mà có lẻ anh cũng không ngờ. Ngày đó anh có cái máy hát đỉa rất hiện đại có thể cho vào một lần hàng chục đỉa nghe mệt ngũ! Anh chơi toàn đỉa nhạc ngoại quốc. Có một bản nhạc tiếng Anh, mỗi lần nghe anh thường đứng dậy với dáng điệu như đang ôm người đối diện vừa hát theo rồi lả lướt một mình. Tôi bị động tâm rôi động luôn tới nảo nhưng khổ nổi tiếng Anh của tôi dạo đó thì a-bờ-cờ nên chỉ lỏm bỏm: “I love* to dance* with you* … Tell me* you love* me too* … Cheek* to cheek* … I love* to dance* with you* … (*nhịp mạnh anh vừa nhún vừa quay). Chỉ bao nhiêu đó thế mà nhớ mãi mặc dù tới nay vẫn chưa biết tựa bản nhạc là gì! Anh dạy tiếng Anh nhưng đôi khi hứng cũng phang tiếng Tây. Chơi bi-da khi đánh được một đường 3 băng đẹp, banh từ từ chạy đến trái thứ 2, anh ép-phê vặn người kéo cơ … banh chạm nhẹ, anh la to “voilà”! Tôi còn nhớ có lần anh cười giới thiệu tôi với bạn anh: “Nó là thằng đã hại đời tao!” Tôi cảm thấy khoái vì biết đây là ngôn ngữ ngoài qui ước. Tôi còn nhớ lúc 2 đứa bị gọi đi khóa 16 Thủ Đức. 2 đứa không trình diện QVTT Cần Thơ mà hẹn nhau trình diện QVTT Saigon buổi chiều ngày chót, rồi cùng được đưa lên QT buổi sáng hôm sau để khám sức khỏe … Nghe tôi có kết quả apt sẽ đi ngày hôm sau còn anh phải khám lại gì đó. Anh nói: “Tao vào xin BS khỏi cần khám lại”. Thế là 2 đứa lại được đưa đi cùng ngày và ở cùng đơn vị tại QT Thủ Đức. Tôi hại đời anh thế đó!

 

Tôi lại nhớ, sau ngày gặp lại, anh Thắng có gởi cho tôi bài viết của anh PTG, Những Ngày Kỷ Niệm trong đó có đoạn anh viết về tôi như sau:

“Anh Trần Văn Dinh ở chung với tôi trong một thời gian khá dài ở trường PTG. Anh người Khánh Hội, tính tình vui vẻ, cởi mỡ rất dễ thương. Anh biết nhiều về văn chương bình dân miền Nam và nói thơ Lục Vân Tiên rất hay. Trong thời gian ở chung với anh, tôi học được nhiều “đòn phép”, nhiều cái hay cũng như cái dỡ và nhờ anh mà sau này ra sống với người đời muôn mặt, tôi ít bị thua thiệt nhiều …”

 

Đọc đoạn trên, tôi phình mũi khoái quá thấy mình như thầy đời không bằng. Nhưng nghĩ lại tôi thấy anh muốn thay chữ ‘tam’ thành chữ ‘nhị’ trong câu “Tam nhân đồng hành tất hửu ngã sư” để dùng tôi làm cả 2 mô hình để anh học cả 2 bài học “dại và khôn”. Tôi liên tưởng cập luận nầy của dân gian:

 

            Thiên hạ tranh nhau cái dại khôn

            Đã biết rằng ai dại với ai khôn

            Mấy kẻ nên khôn mà không dại

            Ở đời có dại mới nên khôn

            Khôn nghề cờ bạc là khôn dại!

            Dại chốn văn chương ấy dại khôn!

 

Thế là ngày xưa tôi đã từng dại và anh đã từng khôn. Mà ở đời người ta học khôn chớ ai đi học dại. Rồi tôi nghĩ có lẻ anh đã tiến đến cập luận cao hơn là “Họa trung hửu phúc” và anh quyết tìm ra cái khôn trong cái dại!

 

Tất cả kỷ niệm đối với tôi giờ đây đều đẹp. Kỷ niệm giữa anh và tôi lại càng quá đẹp. Tôi ước mong một lần gặp lại anh! Rồi biết đâu tôi sẽ được anh  tâm sự về một dòng sông Xích Bích?

 

Mục đích viết để mua vui dù chỉ một vài phút giây, nếu ai đó không vui cũng xin đừng giận!

 

Tran Văn Dinh

Melbourne, 20/01/08