Những Năm Tháng Dạy Học Tại Trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ.

GS. Mai Đức Trí

Sau cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đ́nh Diệm, 11/11/1963, t́nh thế trong nước rất hỗn loạn. Riêng ngành giáo dục cũng có nhiều sáo trộn, bởi v́ trước đó, sinh viên, học sinh băi khóa, xuống đường biểu t́nh phản đối chính phủ đàn áp Phật giáo. Phong trào băi khóa, xuống đường của sinh viên, học sinh bắt đầu từ Saigon rồi lan rộng ra các tỉnh Miền Trung rồi Miền Tây Lục Tỉnh. Bộ Giáo Dục ra lệnh cho các trường phải kỷ luật những học sinh băi khóa, xuống đường ấy. V́ thế, sau cuộc đảo chánh thành công, để thỏa măn yêu cầu của học sinh, nhiều vị hiệu trưởng các trường trung học công lập bị thuyên chuyển đi nơi khác, và một số giáo chức cũng bị thuyên chuyển theo. Kết quả có nhiều lớp không có giáo sư giảng dạy v́ thiếu hụt do thuyên chuyển gây nên.

Vào cuối tháng 11/1963. tôi nhận được Sự Vụ Lệnh của Bộ Giáo Dục bổ đi dạy học ở Cần Thơ. Thú thật, tôi chưa bao giờ dời khỏi Saigon xuống miền Tiền Giang hay Hậu Giang kể từ đời học sinh cho đến khi tốt nghiệp đại học. Hơn nữa, sau cuộc đảo chánh, t́nh h́nh chiến sự gia tăng, cộng quân thường xuyên giựt ḿn hay đắp mô trên quốc lộ 4 từ Saiogn đi Miền Tây. Nhiều thường dân bị chết oan trên các chuyến xe đ̣ bất th́nh ĺnh bị kẹt giữa cuộc giao tranh của quân đội quốc gia và Việt cộng khi chúng phục kích đoàn xe "convoy" của quân đội. ( chính tôi cũng suưt chết trong một cuộc phục kích của VC, khi ngồi trong xe đ̣ hăng Nhan Nhựt trên đường đi Vĩnh Long để về Cần Thơ. Đó là năm 1966, khi chiếc xe đ̣ vừa chạy khỏi quận Cai Lậy trên đường tiến về quận Cái Bè, đột nhiên có 2 chiếc xe jeep quân đội từ phía sau vượt lên phía trước. Một lát sau, tôi nghe một tiếng nổ ầm, long trời nở đất, tiếp theo là nhiều tiếng súng AK từ phía b́a rừng bắn sối sả về hướng quốc lộ 4. Tài xế xe đ̣ vội vàng thắng xe và hô hoán hành khách cúi ḿnh xuống sàn xe. Nhưng đă quá muộn, một số hành khách, đa số là các bà đi buôn, ngồi phía bên hông của xe đ̣ bị trúng đạn lạc và bị thương, kêu la thê thảm. Số hành khách c̣n lại, trong đó có tôi, hốt hoảng nhảy ra khỏi xe, nhào ḿnh xuống lề đường để tránh đạn. Thoát chết, thật hú vía, nhưng tôi cũng bị thương nhẹ v́ chân tay bị xây xát do hoảng sợ nhẩy đại từ trên xe xuống đường quốc lộ 4). V́ lo lắng an ninh bất ổn trên trục giao thông do cộng quân quậy phá, nên tôi tŕ hoăn xuống Cần Thơ tŕnh diện trường Phan Thanh Giản. Tôi nấn ná ở lại Saigon ít ngày để nghe ngóng, rồi đến trung tuần tháng 12 năm 1963, tôi quyết định "khăn gói" lên đường đi Cần Thơ và tại đây không ngờ tôi đă dạy học và sống tới 5 năm trong thời điểm mà cuộc chiến Việt Nam khốc liệt nhất.

Ra bến xe đ̣ Miền Tây, mua vé xe đi Cần Thơ, tôi được khuyên nên đi chuyến sớm nhất buổi sáng để tránh xe bị kẹt ở "Bac" (ferry) Mỹ Thuận. Thế mà khi xe chạy tới Bac Mỹ Thuận vẫn bị kẹt như thường, v́ hôm đó không may gặp đoàn xe convoy quân đội ở Ngă Ba Trung Lương di chuyển đi Vĩnh Long. Kẹt phà gần nửa ngày, đoàn xe đ̣, xe chở hàng và xe du lịch đậu nối đuôi nhau trên 1 cây số ở bến phà để chờ cho đoàn xe convoy được ưu tiên qua trước. Tàu phà (ferry boat) th́ nhỏ chỉ chở tối đa được 2 xe camion GMC của quân đội và chạy rất chậm qua khúc sông Tiền Giang không rộng lắm (gần đây, nước Úc đă giúp đỡ xây cây cầu tối tân Mỹ Thuận thay thế cho bến phà này). Hơn nữa chỉ có hai chiếc tàu phà cũ kỹ, chạy ́ ạch qua lại giữa hai bên bờ, thời gian qua lại mỗi chuyến cũng mất từ 30 đến 45 phút chưa kể thời gian nhân viên trên tàu phà sắp xếp cho xe chạy lên và chạy xuống phà. Đó là một trong những lư do tại sao Bac Mỹ Thuận bị kẹt thường xuyên. Mỗi lần tàu phà cập bến, hàng đoàn người lúc nhúc chen nhau bước lên bờ xen lấn với đủ loại xe hai bánh, ba bánh và xe lôi (một phương tiện giao thông thô sơ của miền Lục Tỉnh, gồm có một xe đạp hay xe gắn máy ở phía trước "lôi" theo một "rờ moọc" ở phía sau có mui hay không có mui để chở khách). Sau này, rút kinh nghiệm, tôi không bao giờ mua vé xe đ̣ chạy suốt từ Saigon đi Cần Thơ nữa, mà đi "xe chuyền", nghĩa là chỉ mua vé xe chạy tới Bac Mỹ Thuận thôi, bỏ xe đi bộ qua bên bờ Vĩnh Long rồi kiếm xe khác chạy về Bac Cần Thơ, như vậy sẽ không sợ bị kẹt ở Mỹ Thuận nữa, tuy có hơi vất vả một chút.

V́ chờ xe qua phà, nên tôi lang thang ở bến phà, thấy hai bên đường rất nhiều hàng quán, đa số là quán cơm và quán giải khát, không thấy quán trọ. Đặc biệt nhất là quán cơm nào cũng có một ḷ nướng thịt đặt ở ngoài cửa, người đứng nướng tay cầm quạt đang mải mê quạt cho than đỏ hồng, trên ḷ là những vỉ thịt sườn heo "cốt lết" được bôi phẩm đỏ trước khi nướng, mùi thơm của thịt sườn heo nướng quyện với mùi khói than bay mù mịt, tỏa khắp không khí, tấn công "ác ôn" vào khứu giác của người qua lại. Cơm sườn heo nướng Bac Mỹ Thuận, ngày nay ở hải ngoại mỗi khi nghĩ tới vẫn c̣n thèm ! Quán cơm nào cũng đông nghẹt thực khách, ngoài cơm sườn heo nướng là những ly "cối" nước trà đá rất được ưa chuộng, v́ trời rất nóng nực vào lúc buổi trưa chờ phà ở Bac Mỹ Thuận, ai ai cũng khát nước, khô cả cổ họng, vào quán trước khi kêu cơm là phải kêu ngay một ly trà đá uống cho đỡ khát cái đă. Một hoạt cảnh nữa cũng rất lạ đối với tôi lần đầu tiên đi Cần Thơ, đó là nh́n thấy những người hát rạo, hát vọng cổ qua máy khuếch âm (ampli-fier) cầm tay, họ vừa hát vừa gẩy "ghi ta" vọng cổ những bài hát trích trong các vở tuồng cải lương đang "ăn khách" thời bấy giờ, chẳng hạn như Lan và Điệp, Sơn Nữ Phà Ca v.v.Tiếng hát của họ khá hay nhưng khổ nỗi máy khuếch âm chạy pin rẻ tiền của họ lại phát ra tiếng rè rè làm hại phần nào giọng hát rất "mùi" của họ. Tuy thế, tôi thấy họ cũng kiếm ăn khá, v́ thấy nhiều bà mặc áo bà ba, đầu quấn khăn rằn ri đen đỏ, móc túi cho tiền họ lia lịa.

Sau khi qua Bac Mỹ Thuận, trời đă xế chiều, xe chạy một mạch tới quận B́nh Minh mà người dân địa phương vẫn gọi là Cái Vồn ( nơi đây nghe nói nguyên là sào huyệt của Tướng Năm Lửa thuộc giáo phái Ḥa Hỏa). Tại đây xe lại phải qua bến phà Bac Cần Thơ mới tới được tỉnh lỵ Cần Thơ. Lại có một màn đợi tàu phà, nhưng đỡ bị kẹt hơn ở Bac Mỹ Thuận.

Xuống xe đ̣ ở bến xe mới Cần Thơ, lúc đó trời đă tối, tôi không thể đến ngay trường PTG để tŕnh diện. Buổi tối Cần Thơ, đèn đường không sáng lắm, v́ những cột đèn đường trang bị bằng những đèn ống néon thường, tuy thế vẫn có nhiều con đường tối om v́ không có đèn đường. Tôi cảm thấy thấm mệt và chán nản v́ đi hết gần một ngày từ sáng sớm tới tối đêm mới đến được Cần Thơ mà đường dài chỉ có hơn 160 km ! Tôi đi xe lôi xuống "downtown" của thành phố là khu chợ ở bến Ninh Kiều để t́m quán trọ ngủ qua đêm.

Sau một ngày đi đường quá mệt, tôi ngủ thiếp đi cho tới gần 10 giờ sáng hôm sau mới tỉnh dậy. Đánh răng rửa mặt xong rồi xuống phố ăn sáng qua loa, tôi trở về pḥng trọ thay quần áo, thắt cà vạt chỉnh tề rồi sách "cạc táp" đi xe lôi tới cổng trường Phan Thanh Giản. Nh́n cổng trường với dẫy tường bao quanh hoen ố, và dẫy nhà lầu ngói đỏ cũ kỹ phía sau, tôi biết đây là ngôi trường do người Pháp xây cất dưới thời thuộc địa mang tên là "Collège de Can Tho". Trường được chia làm 3 khu, khu phía trước là các pḥng hiệu trưởng, giám học và hành chánh, khu 2 và khu 3 là các pḥng học gồm từng lầu trên và từng mặt đất. Trước khu 2 là một sân rộng, ở giữa có xây một chiếc bệ tṛn đá hoa cương mà trung tâm là một cột cờ rất cao. Hai bên cạnh sân là một dẫy nhà vệ sinh dành cho học sinh. Ngoài pḥng học, c̣n có pḥng dành cho giám thị (surveillant ) xây xen kẽ với các pḥng học. Kiểu kiến trúc theo lối Pháp này rất cổ kính.Tuy nhiên, trong Thế Chiến II, quân đội Nhật đă chiếm ngôi trường này làm trại lính, nên trường bị phá hư hỏng rất nhiều, mà sau này chính quyền quốc gia tiếp thu lại cũng không có đủ ngân sách để sửa chữa, tu bổ như cũ.

Bước vào pḥng hiệu trưởng để tŕnh diện, tôi được biết ông hiệu trưởng Lưu Khôn vừa được thuyên chuyển về Saigon, người lên thay thế ông làm hiệu trường là GS Phạm Văn Đàm. GS Đàm cũng dạy môn Lư Hóa đệ nhị cấp như tôi. Khi biết tôi dạy môn Lư Hóa, GS Đàm rất mừng, v́ các lớp đệ nhị và đệ nhất của trường chuẩn bị thi Tú Tài I và II cuối năm đang thiếu giáo sư dạy Lư Hóa. V́ thế, ông vừa phải xuống lớp dạy học, vừa phải lo điều hành trường với cương vị hiệu trưởng. Nay có tôi đến thế chỗ cho ông để dạy lớp, ông cảm thấy nhẹ bớt gánh nặng trách nhiệm phần nào. Lúc đó, GS Đàm vẫn c̣n độc thân nhưng ông được ở trong một ngôi biệt thự rất lớn dành riêng cho hiệu trưởng nằm ngay phía sau trường PTG. Các giáo sư độc thân khác th́ ở ngay trong trường, chia nhau hai người một pḥng, trong những pḥng ngày xưa dành cho giám thị ở trên lầu nay được biến thành pḥng ngủ. Tôi được cho biết là hết chỗ, nên không có hy vọng ǵ ở trú trong trường.

Sau khi tŕnh diện với hiệu trưởng, tôi xin nghỉ ít ngày để t́m nơi trú ngụ trước khi chính thức nhận lớp. Cũng may, trước khi đi Cần Thơ tôi có một người bạn học thân có gia đ́nh ông anh làm việc ở Cần Thơ từ năm 1958. Tôi đă có địa chỉ của ông này trong túi và kêu xe lôi chở tới nhà. Ông anh này tên N. làm việc ở ty công chánh Cần Thơ. Ông N.ø thấy tôi th́ rất ngạc nhiên nhưng khi nghe tôi nói được bổ về dạy trường PTG th́ ông rất vui. Tôi ngỏ lời nhờ ông kiếm giúp cho một chỗ ở tạm. Ông nói nhà thuê ở Cần Thơ lúc đó rất khó kiếm, v́ Cần Thơ là Đại Bản Doanh (Head Quarter) của quân đoàn 4, rất nhiều sĩ quân độc thân làm việc hành chánh, tiếp liệu, truyền tin, hậu cần của quân đoàn, không ở trong trại lính mà ra thuê pḥng ở ngoài nên khan hiếm pḥng cho thuê. Cuối cùng, ông chợt nghĩ ra, năm 1958 khi ông đổi xuống làm việc ở Cần Thơ, ông được người trong ty công chánh giới thiệu tới ở trọ trong một căn biệt thự cổ có nhiều pḥng của một ông đốc công, nay đă qua đời, nhưng bà vợ góa của ông vẫn c̣n ở tại đó. Ông N.ø chở tôi trên chiếc xe gắn máy "mô-bi-lết" tới ngôi biệt thự cổ, với hy vọng mỏng manh c̣n có pḥng trống cho thuê. Ngôi biệt thự cổ là một ngôi nhà trệt xây bằng gạch theo lối xưa, trước nhà là một cái sân rộng có trồng cây và có nhiều chậu cây cảnh xum xoe. Ngôi nhà nằm trên đường Phan Đ́nh Phùng ngay trước Dinh của Tướng Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, lúc đó là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Chủ nhà là một bà già có vẻ trí thức, sau khi được ông N.ø giới thiệu tôi là một giáo sư mới đổi về dạy trường PTG, đang cần t́m một chỗ trọ. Bà chủ nhà đột nhiên gọi tôi là "professeur" và xổ ra một tràng tiếng Pháp để tự giới thiệu ḿnh. Hóa ra bà cũng là một cựu nữ sinh trường " Collège de Can Tho" dưới thời Pháp thuộc, sau có lên Saigon học tiếp "Brevet Élémentaire" ở trường trung học Marie Curie. Bà cho biết đă cho thuê hết pḥng nhưng bà nói có một pḥng rộng cho một trung úy quân đội độc thân thuê, người này có họ hàng với bà, bà hứa sẽ thuyết phục người trung úy cho tôi ở chung (ở hải ngoại kêu bằng "share" pḥng ?). Đang nói chuyện với bà chủ nhà th́ viên trung úy từ ngoài bước vào, bà chủ nhà liền giới thiệu tôi với viên trung úy hăy c̣n rất trẻ này. Khi biết tôi là giáo sư dạy trường Phan Thanh Giản, viên trung úy vui vẻ nhận lời cho tôi "share" pḥng ngay và sẵn sàng nhường chiếc giường đệm có sẵn trong pḥng cho tôi để ra ngủ ghế bố ! Không ngờ cái "mác" giáo sư trường PTG lại có "giá" và "ép phê" đến thế (!?) Sau này tôi nhận ra, học sinh thi đậu vào đệ thất trường PTG là một vinh dự cho phụ huynh, có một số ít gia đ́nh khá giả c̣n tổ chức ăn khao "tân khoa" lận.

Thu xếp xong nơi ở, c̣n ăn th́ tạm thời ăn ở quán Ngọc Lợi kế bên sân quần vợt có bán đồ ăn cả 3 bữa sáng, trưa, chiều, đành phải "cơm hàng cháo chợ " vậy. Tôi trở về Saigon và vào đầu năm 1964, lại "khăn gói gió đưa" lên đường đến Tây Đô để bắt đầu nhận lớp dạy tại trường PTG. Năm nay cũng là năm đầu tiên trường PTG chia ra làm hai, trường sở bên cánh trái trở thành trường nữ trung học Đoàn Thị Điểm do nữ giáo sư dạy Anh văn là bà Nguyễn Thị Nhơn làm hiệu trưởng đầu tiên, ban giảng huấn cũng bị chia đôi. V́ thiếu giáo sư trầm trọng, tôi được ông giám học yêu cầu dạy rất nhiều lớp cả sáng lẫn chiều, từ đệ tứ đến đệ nhất. Trên nguyên tắc, tôi chỉ dạy 16 giờ mỗi tuần theo quy định, nhưng tôi đă phải dạy tới 30 giờ gần gấp đôi, dĩ nhiên những giờ dạy thêm được trả tiền phụ trội. Hồi đó, đa số giao sư c̣n độc thân, có gia đ́nh cha mẹ anh em ở Saigon, nên không ai nghĩ đến định cư hẳn ở nơi ḿnh làm việc như bây giờ ở Mỹ phải "relocation" chạy theo "job" từ tiểu bang này sang tiểu bang khác là chuyện b́nh thường. V́ thế, ai cũng năn nỉ ông giám học Nguyễn Trung Quân xếp giờ dạy trong tuần sao cho kịp giờ lên xe đ̣ để "giọt" về Saigon vào cuối tuần thăm gia đ́nh, khiến ông giám học vốn cũng là đồng nghiệp phải "thông cởm" và kêu trời !

Trong tuần lễ, có nhiều ngày tôi phải dạy tới 5 "tiết" từ 7 g30 sáng tới 12g30 trưa, thật là bở hơi tai, mệt nhoài. Đặc biệt nhất, trong niên học 1963-1964, tôi phải phụ trách dạy môn lư hóa cho lớp đệ nhị các ban A, B, C để kịp thi Tú Tài 1 vào cuối niên học. Chỉ c̣n có 6 tháng nữa là hết niên học, nhiều lớp v́ thiếu giáo sư chỉ học được vài giờ môn lư hóa, chương tŕnh học c̣n rất dài, làm sao dạy cho hết chương tŕnh đây ? Tôi không có chọn lựa nào khác, đành phải dạy lướt qua hay bỏ qua các bài học ít quan trọng và dặn học tṛ về nhà tự học lấy để c̣n dành thời giờ giảng dạy những bài có nhiều công thức rắc rối trong hai môn Quang học và Điện học. Tôi không chủ trương dạy "tủ" để cho học tṛ đi thi, điều đó trái với nguyên tắc sư phạm mà tôi đă được đào tạo tại trường ĐH Sư Phạm Saigon. Phải nói thầy tṛ cùng "vắt chân lên cổ" chạy đua với thời gian cho hết chương tŕnh học.

Tôi muốn mở một dấu ngoặc ở đây để nói về chương tŕnh trung học do Bộ Quốc Gia Giáo Dục ban hành từ thời chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Đó là chương tŕnh do GS Thạc Sĩ Hoàng Xuân Hăn soạn thảo từ thời chính phủ Bảo Đại, dựa theo chương tŕnh trung học của nước Pháp. Ngoài các môn nhân văn như Việt văn, sử địa, công dân giáo dục, sinh ngữ, v.v. th́ có khác nhưng các môn khoa học như toán, lư hóa, vạn vật th́ "copy" nguyên bản chương tŕnh Pháp, sách giáo khoa dạy các môn học này cũng dịch từ sách giáo khoa của Pháp. Mặc dù nước Pháp cũng là một cường quốc văn minh trên thế giới, chương tŕnh học của nước họ phải tân tiến, cập nhật, nhưng mang áp dụng vào hoàn cảnh một nước nghèo và chậm tiến như Việt Nam đang lâm trận nội chiến tàn khốc th́ không hợp v́ không có điều kiện và phương tiện để thi hành. Cho nên chương tŕnh học trở thành vá víu, từ chương và nhồi sọ. Môn lư hóa tôi dạy vốn là môn khoa học thực nghiệm, học sinh đáng lẽ phải có chương tŕnh thực tập trong pḥng thí nghiệm để kiểm nghiệm lại các định luật vật lư hay hóa học đă học, nhất là hóa học, ít ra cũng nhận biết các hóa chất, như thế học sinh mới thật sự tiếp thu các kiến thức căn bản về khoa học. Nhưng chương tŕnh thi tú tài không có thi thực nghiệm, do đó. học sinh không cần học thực tập. Trường học nào có xây pḥng thí nghiệm cũng chỉ dùng để "trang trí" hay làm "kiểng". Hơn nữa, các thiết bị của pḥng thí nghiệm lại lỗi thời hay thiếu thốn không đủ cho giáo sư làm thí nghiệm biểu diễn (demonstration) cho học sinh xem, đừng nói tới việc cho học sinh thực tập. Cuối cùng, giáo sư làm "thí nghiệm" bằng phấn vẽ trên bảng đen và học sinh chỉ c̣n cách tưởng tượng và nhớ thuộc ḷng để đi thi. Khi đi thi tú tài, đổ hay trượt là nhờ may mắn giải được bài toán vật lư chứ không phải giải nghĩa các hiện tượng vật lư hay hóa học đă học trong lớp. Ngoài ra, Bộ Giáo Dục c̣n đặt cho môn toán và lư hóa có một "hệ số" (coefficient) là 4 và 3 tuỳ theo ban A hay ban B để chấm điểm trong các kỳ thi tú tài. Hệ số này là"sinh tử" đối với thí sinh, chẳng hạn thí sinh ban B chỉ cần làm trúng bài thi toán và lư hóa là dư điểm đậu tú tài v́ số điểm, thí dụ là 18, được nhân lên gấp 4 lần cho môn toán và 3 lần cho môn lư hóa, "dư sức qua cầu" bù đắp cho các môn thi khác miễn sao không bị 0 điểm. Cũng v́ thế, học sinh các lớp đi thi tú tài thường lơ là các môn học khác, tập trung nhiều th́ giờ vào học "gạo" các môn toán lư hóa. Tóm lại, chương tŕnh học chỉ hoàn toàn nhắm vào thi cử.

Học sinh trường PTG trong các lớp tôi dạy đều rất ngoan và kính trọng thầy, phải chăng tôi may mắn không bị học sinh nào trọc phá ? Lớp nào cũng đông nghẹt, chen chúc 40-50 học sinh trong đồng phục sơ mi trắng quần xanh dương. Có nhiều em nhà rất nghèo, thân h́nh gầy ốm thiếu dinh dưỡng, sau khi tan học về c̣n phải làm việc phụ giúp gia đ́nh kiếm sống, thật tội nghiệp. Các em đến tuổi quân dịch, học trong t́nh trạng tinh thần luôn luôn căng thẳng, nơm nớp lo sợ, v́ trượt thi tú tài là không được hoăn dịch nữa, phải bỏ học vào quân trường "xếp bút nghiên theo việc đao cung". Môn lư hóa tôi dạy vô t́nh trở thành một trong những môn định đoạt "số mệnh tương lai" của các em. V́ thế khi tôi giảng dạy, cả lớp im phăng phắc, lắng tai nghe giảng. Tôi biết nhiều em c̣n yếu kém về môn học này v́ mất căn bản từ các lớp dưới, nên sau mỗi bài giảng, tôi đọc lại tóm tắt bài học cho cả lớp ghi chép. Tôi biết làm vậy là trái với nguyên tắc sư phạm, nhưng trong hoàn cảnh này phải biết tùy cơ ứng biến chứ. Nhờ những bài cho ghi tóm tắt của tôi, nhiều em đă tiến bộ, giải được những bài tập " hắc búa" mà tôi ra trong lớp.

Cuối năm, gần Tết, sinh hoạt văn nghệ trong trường khá sôi nổi, các lớp thi nhau ra nội san, nhất là các lớp ban C có nữ sinh cùng học. Đọc những bài thơ được chép tay trong nội san của những bàn tay học tṛ, uốn nắn từng nét chữ, phản ánh t́nh cảm chân thật, mộc mạc, thơ ngây của tuổi học tṛ, vẫn c̣n gây xúc cảm khá đậm cho tôi tới ngày nay mỗi khi nghĩ tới. Tôi c̣n nhớ phụ trách môn lư hóa lớp đệ nhị ban C niên khoá 63-64 có anh Trần Quốc Mậu làm trưởng lớp (nay định cư ở Canada). Có một lần tôi gọi anh Mậu lên bảng trả bài, tôi đinh ninh anh làm trưởng lớp th́ phải thuộc bài để làm gương cho cả lớp, không ngờ anh chỉ cười trừ rồi đứng "chào cờ", không trả lời được câu hỏi nào. Dĩ nhiên tôi nổi giận, đuổi anh về chỗ, mấy em nữ sinh ngồi bàn đầu đều xanh mặt, sợ hăi. Tôi bỏ ra khỏi lớp một lát rồi trở lại giảng bài mới, không thèm mắng một câu nào, đáng lẽ ra là cho "cồng si" hay chép phạt. Sau giờ học, anh Mậu và vài cô nữ sinh lên pḥng giáo sư gặp tôi để xin lỗi với lư do là để quá nhiều thời giờ vào học sinh ngữ đi thi tú tài nên lơ là học môn lư hóa ! Các em học ban C mà, môn lư hóa chỉ có hệ số 1 nên không quan trọng ! Đó là hậu quả của "hệ số", gây ra "nhất bên trọng, nhất bên khinh" !

Người Mỹ đă xâm nhập vào trường PTG ? Không, đây là một trường hợp đặc biệt, đoàn thanh niên chí nguyện Mỹ gọi tắt là CVS t́nh nguyện dạy bổ túc Anh văn cho học sinh. Người được cử đến trường PTG là vợ chồng anh Walker. Anh Walker cùng dạy lớp đệ nhị C với tôi, nên tôi có dịp làm quen anh. Anh chị ăn nói nhỏ nhẹ, miệng luôn cười, rất dễ mến. Tôi gặp lại vợ chồng anh Walker (đáng lẽ bây giờ phải gọi bằng cụ, tôi xin phép cứ gọi thế cho thân, Mỹ-Việt đề huề mà) ở đại hội PTG-ĐTĐ tại San Jose, năm 1999, dịp này anh cho xem lại những album h́nh ảnh anh chụp gần 40 năm trước ở Cần Thơ, trong một số h́nh có trường PTG, ĐTĐ và các giáo sư trong đó có tôi.

Sau năm 1965, quân Mỹ đổ vào VN càng ngày càng nhiều, cuộc chiến leo thang cũng càng ngày càng dữ dội, đêm nằm đôi khi nghe thấy tiếng pháo kích của cộng quân vào ngoại vi của thành phố. T́nh h́nh chính trị bát nháo, các ông tướng "chỉnh lư" nhau như cơm bữa. Đường giao thông quốc lộ 4 bị VC đắp mô hàng ngày. Người ta kể lại một câu chuyện cười ra nước mắt: một ông già ở gần quốc lộ 4, ban đêm bị du kích VC bắt đi đắp mô, ban ngày th́ lính quốc gia đến bắt đi phá mô ! Ông ǵa ớn quá, đành "bỏ của chạy lấy người" trốn đi mất tích. Thời gian này Miền Tây lại bị băo lụt trầm trọng, quốc lộ 4 và hai bên ruộng lúa ngập nước, xe đ̣ không chạy được. Trong một chuyến từ Saigon về Cần Thơ, v́ bị ngập lụt, có nhiều khúc đường, tôi và hành khách khác phải bỏ xe, đáp thuyền "ba lá" do các nông dân chèo, lướt trên các ruộng lúa. Thật là tức cười và ngao ngán làm sao !

Quân Mỹ bắt đầu có mặt tại Cần Thơ trong năm 1966, và càng ngày càng nhiều. Nhiều căn nhà ở bến xe mới gần phi trường B́nh Thủy đă bắt đầu sửa đổi để biến thành bar rượu đón lính Mỹ, đường phố đă thấp thoáng thấy gái "bán ba" ăn mặc loè loẹt và hở hang, nhất là ban đêm. Sự có mặt của quân Mỹ tại Cần Thơ rấy lên phong trào học tiếng Anh rầm rộ. Các lớp ban đêm dạy Anh văn do Hội Việt Mỹ tổ chức đều đông nghẹt, một số sĩ quan Mỹ cũng tham gia dạy "luyện giọng" cho học viên VN. Ngoài đường phố đă nghe thấy những chú "tài xế" xe lôi chở lính My,ơ xổ tiếng Mỹ "OK, Salem" loạn xà ngầu.

Tôi đă giảm bớt những chuyến về Saigon thăm gia đ́nh vào cuối tuần, v́ ngại đường giao thông trên quốc lộ 4 bị VC đắp mô hay phục kích. Để giúp học sinh Cần Thơ, trường công cũng như trường tư, học thi Tú Tài, tôi cùng hai giáo sư dạy toán là Vơ Văn Vạn và Hà Ngọc Quang mở lớp toán lư hóa luyện thi tú tài tại trường tư thục Vơ Văn nằm trên đường Ḥa B́nh. Lúc đầu chỉ có 1 lớp, sau số học sinh quá đông phải chia thành hai lớp. Các lớp học vào buổi chiều hay buổi tối. Học viên ngoài học sinh ra, c̣n có cả người lớn, thường là quân nhân, từng bị trượt thi Tú Tài, nay học luyện thi để thi lại cho chắc ăn.

Trường Văn Hóa Quân Đội Vùng 4 Chiến Thuật mượn lớp học của trường PTG và ĐTĐ để mở lớp đêm dành cho quân nhân muốn học bổ túc văn hóa trung học. Nhiều giáo sư của cả hai trường PTG và ĐTĐ được mời tham gia ban giảng huấn. Tôi cũng được mời dạy. Hàng đêm, trường PTG và ĐTĐ đèn đóm sáng choang, học viên ra vào cổng trường tấp nập, cánh cổng trường không c̣n khép kín lại sau buổi tan học chiều như trước nữa. Học tṛ của tôi bây giờ lại có những người quân nhân ham học lớn tuổi hơn tôi khá nhiều. Họ gọi tôi bằng thầy xưng em một cách kính cẩn, khiến tôi rất bối rối.

Năm 1967 có cuộc bầu cử Quốc Hội và Tổng Thống VNCH, công chức và giáo chức trung, tiểu học tỉnh Cần Thơ đều bị gọi đi gác thùng phiếu ở các pḥng bầu cử trong tỉnh. Gác thùng phiếu chẳng có ǵ là khó nhọc, nhưng chỉ sợ ở những quận hẻo lánh, kém an ninh, du kích VC tấn công cướp thùng phiếu để phá hoại cuộc bầu cử. Cũng may, tôi được chỉ định đi gác pḥng đầu phiếu tại một trường tiểu học ngay trong tỉnh, không phải đi xa, đỡ khổ ! Liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống đúng như dư luận đă tiên đoán từ trước cuộc bầu cử. Cuối năm đó, cả nước ăn mừng v́ có tân quốc hội, tân tổng thống và tân phó tổng thống.

Tết Mậu Thân, đầu năm 1968, TT Nguyễn Văn Thiệu vừa "đăng quang" nhậm chức xong, về quê vợ ở Mỹ Tho ăn Tết, "áo gấm về làng". Không ngờ, đêm 30 rạng sáng mùng một Tết, VC mở trận Tổng Tấn Công trên toàn lănh thổ Miền Nam. Thời gian này tôi đang ở Saigon ăn Tết với gia đ́nh. Nhà tôi ở gần Ngả Tư Bẩy Hiền, Tân Sơn Nhất. Đêm 30 nghe tiếng súng AK và tiếng nổ hỏa tiễn B40 của VC, nhiều người lầm tưởng là tiếng pháo nổ. Mặt trận ở khu Bẩy Hiền rất nặng, v́ VC tấn công phi trường Tân Sơn Nhất từ phía xưởng dệt vải Vinatexco nằm trên đường từ Bẩy Hiền đi Hóc Môn.

Saigon giới nghiêm, các đường giao thông từ Saigon đi các tỉnh bị gián đoạn. Đợi tới đầu tháng 3, tôi mới đáp được xe đ̣ trở lại Cần Thơ. Thành phố Cần Thơ hăy c̣n trong t́nh trạng khẩn trương, giới nghiêm từ 7 giờ tối tới 5 giờ sáng hôm sau, quân nhân cấm trại 100%, chuẩn bị ứng chiến 24/24. Sinh hoạt hàng ngày căng thẳng, ai ai cũng vội vàng, từ buôn bán, làm việc cho đến học hành, đi lại v.v. đều phải gấp rút làm xong trước giờ giới nghiêm. Rạp hát, rạp chớp bóng đều đóng cửa, sinh hoạt về đêm hoàn toàn tê liệt như một thành phố chết. Công chức và giáo chức đều bị hàng ngũ hóa, phải luân phiên trực đêm canh gác bảo vệ công sở và trường học. Trường PTG cũng không được ngoại lệ, các nam giáo sư ngoài giờ dạy học ban ngày, ban đêm c̣n phải đến trường canh gác theo phiên trực mỗi tuần một lần. Tôi được phát cho một khẩu súng trường Carbine cổ lỗ sĩ trong một phiên trực đêm không ngủ tại một pḥng trực bên cạnh cổng vào trường, dù mệt mỏi đến đâu cũng không thể ngủ gật v́ có người đi kiểm tra hàng giờ. Tôi thầm nghĩ, nếu có VC xâm nhập, tôi không biết xoay sở ra sao v́ chưa được dạy tập bắn bao giờ. Có lẽ cầm khẩu súng để tự trấn an ḿnh về mặt tâm lư mà thôi, c̣n thực tế là hăo huyền, phí công sức và thời giờ vô ích.

Suốt niên học 1967-1968, thầy tṛ, tuy không nói ra, đều lo ngại v́ t́nh h́nh bất ổn. Thầy th́ cố gắng làm hết bổn phận giảng dạy bắt buộc, c̣n tṛ th́ miễn cưỡng học cho xong. Mùa hè đến, sau khi băi trường thầy tṛ chia tay nghỉ hè, các cuộc thi trung học phổ thông và tú tài hàng năm theo thông lệ được tổ chức vào tháng 7 hay tháng 8, các giáo chức được Bộ Giáo Dục cử đi gác thi và chấm thi. Nhưng năm nay, v́ có lệnh Tổng Động Viên, một số giáo sư trung học và đại học phải vào quân trường tập huấn 9 tuần căn bản quân sự trong mùa hè. Tôi và một số nam giáo sư khác, trừ những vị cao niên và cựu quân nhân, phải vào quân trường Thất Sơn ở vùng biên giới Việt Miên thuộc tỉnh Châu Đốc. Trại huấn luyện nằm trong vùng núi két, vùng 7 núi rất hiểm trở, thường xuyên bị VC pháo kích từ bên kia biên giới sang. Chúng tôi được huấn luyện như một tân binh quân dịch, tập bắn súng Garand M1, ném lựu đạn, ḅ dưới làn đạn đại liên M60, dạ hành phục kích v.v.

Sau 9 tuần học căn bản quân sự, chúng tôi được "biệt phái" trở về trường dạy học tiếp. Tôi c̣n nhớ khi bước chân vào lớp, cả lớp cùng phát ra tiếng "ồ" ngạc nhiên không nhận ra tôi. Thực vậy, tôi gầy đi ít nhất cũng 15 kg, mặt mũi hốc hác như mới khỏi bệnh, da xạm và cháy nắng như người Thượng, đầu tóc húi "cua" gần như trọc, đầu lính mà ! Sau tiếng ồ, nhiều em nh́n tôi dơm dớm nước mắt thương hại, tôi rất cảm động, quay lưng lại giả vờ lau bảng đen để cố trấn áp nỗi xúc động đang dâng lên trong ḷng tôi.

Cuối năm 1968, tôi nhận được sụ vụ lệnh của Bộ Giáo Dục chuyển tôi về Saigon công tác ở Nha Trung Học và kể từ ngày đó tôi bịn rịn rời khỏi Cần Thơ, rời mái trướng PTG thân yêu, rời những mái đầu xanh học tṛ tôi đă dạy học trong 5 năm qua....

Ngày nay ở hải ngoại, tuổi đời đă xế chiều, nhớ lại những năm tháng dạy học ở Cần Thơ, tôi tưởng tượng mọi việc như mới xẩy ra ngày hôm qua ! Thời gian đă trôi mau, nhưng kỷ niệm dù vui dù buồn vẫn trường tồn với thời gian, và sống măi trong kư ức.

Tôi viết ra những ḍng trên để cùng chia xẻ với các cựu học tṛ PTG mà tôi nghĩ có người nay đă là ông nội hay ông ngoại cả rồi, một chút hồi tưởng về quăng đời nhiều biến đổi, khó quên, dưới mái trường thân yêu Phan Thanh Giản trong một giai đoạn lịch sử tối đen nhất của Miền Nam VN.

GS. Mai Đức Trí

Mùa Thu 2003

New Jersey, USA.