MỘT ĐỜI KINH NGHIỆM XÓT XA

Lê Thiện Phúc

(CHS PTG 58-64)

 

 

Tôi viết bài nầy kể lại những kinh nghiệm trải qua trong đời không phải nhằm mục đích đề cao cái 'tôi' không có thực của mình, mà mục đích là muốn chia xẻ một vài kinh nghiệm sống thực cá nhân để biết đâu một ngày kia con cháu tôi hay những người ở thế hệ mai sau học được phần nào về cái giá trị của ý chí kiên cường mà mỗi con người cần phải có để vượt qua vô vàn thử thách, khó khăn trong cuộc đời. Cuộc đời đó bắt đầu từ thuở thiếu niên của một cậu con trai nhà nghèo, hồn nhiên vui thú với ruộng đồng, quen thuộc với công việc giăng câu, bắt ốc, ngắm mây trời mênh mông trên những cánh đồng lúa xanh rì, và không bao giờ biết buồn hay thất vọng nghĩ đến tương lai, bởi lúc đó cậu ta không hề có ý niệm tương lai là gì!

Giờ đây trong ký ức lờ mờ tôi xin mời quí độc giả khởi hành cùng tôi trở lại thăm cái làng quê mộc mạc, nhưng là một thế giới thanh bình của cậu bé vừa khoảng lên năm, thường ngày sống ở nhà với một người anh lớn hơn ba tuổi trong lúc cha mẹ sáng sớm thả ghe đi bán hàng rong trên sông, tới chiều tối mới trở về. Đó là vào thời điểm của thập niên 1950. Hình ảnh đó tuy chỉ còn là ấn tượng lờ mờ trong tâm trí  nhưng có điều tôi nhớ rất rõ là cái địa danh: Ấp Thạnh Lợi, xã Long Thạnh, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ, cách cầu trắng lớn chừng 5 cây số theo sông kinh xáng vô hướng Xẻo Môn, Ngã tư Hủ tiếu, nhà máy cháy, hay người ta còn gọi là ngả tư La Bách, mamg tên một ông Tây điền chủ một thời.

Khi lớn lên đôi chút tôi được cha mẹ ghi tên theo học trường làng từ lớp vỡ lòng, rồi dần dần học làm toán, cộng trừ, nhơn, chia. Trường học của tôi chỉ có một mái lá che mưa, xung quanh không có vách. Nơi đây bọn học trò đủ cấp lớp chúng tôi vô học và ra về cùng giờ, dưới sự hướng dẫn chung của một ông thầy, đó là Thầy Thái. Chính Thầy Thái là người đã cho tôi cái vốn liếng chữ nghĩa ban đầu để làm hành trang mang theo ra chợ Phụng Hiệp xin vào học được lớp nhì vào khoảng năm 1954. Ở đây tôi gặp thầy Huyết là người hướng dẫn lớp nhì A của tôi. Sang năm sau, tôi được cho lên lơp học lớp nhất A với thầy Nguyễn Thành Long sau nầy cưới cô Liễu. Khoảng cuối năm 1957 tôi dự thi vô trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Trong số 100 học trò từ trường tiểu học Phụng Hiệp đi thi chỉ có hai đứa được trúng tuyển mà tôi là một trong hai đứa học trò nhà quê đó; còn đứa kia là một nữ sinh, tên Võ Thị Hai, sau nầy làm cô giáo và đã qua đời vì bạo bệnh.

Cái cảnh hàn vi vẫn tiếp tục đeo đuổi tôi lên tới Cần Thơ trong thời gian theo học lớp đệ thất E, trường Phan Thanh Giản vào đầu năm 1958. Lúc đó tôi ở trọ nhà Dì Ba Phưng, bà con bạn dì với má tôi, ở đường Nguyễn An Ninh Cần Thơ. Qua năm đệ lục thì tôi di chuyển vô Rạch Bần, đường Tạ Thu Thâu đi vô, ở trọ nhà anh Tư Dễ, cũng là bà con bên ông ngoại tôi. Thời gian nầy tôi còn nhớ một kỷ niệm khó quên là có lần tôi bị gãy tay trong một trận đá banh tranh hùng với một lớp khác. Tôi nhớ lúc đó anh em đồng đội của tôi rất lo lắng cho tôi. Hung tin đưa tới nhà trường, thầy chủ nhiệm lớp tôi biết được nên làm thủ tục cho tôi nghĩ dưỡng thương tại nhà. Tôi được một ông thầy thuốc nam ở gần trường trung học Đồng Tâm băng bó bằng con gà con đâm nhuyễn. Trong thời gian nằm nhà dưỡng thương, bạn bè cùng lớp của tôi thường xuyên lui tới thăm tôi, làm tôi thấy sung sướng và cảm động vô cùng.

Lên tới đệ ngủ tôi dọn về ở chung với mấy người bạn học ở đường Tài Xỉu, đối diện một cánh đồng nhỏ. Tôi ở chung với Thành, Lập và Đua, em gái của Thành tại căn nhà lá đơn sơ đầy kỷ niệm nầy được vài năm. Chúng tôi đều là con nhà nghèo, từ quê ra tỉnh đi học, nên cảnh sống bao giờ cũng kham khổ. Hàng ngày anh em tự túc nấu ăn, đưa nào đi học về trước thì có nhiệm vụ nấu cơm. Món ăn thường ngày là rau luộc chắm nước mắm làm chuẩn. Bữa nào 'thịnh soạn' hơn thì có thêm món trứng vịt luộc là bọn tôi được một bữa ăn ngon lành hơn! Nhà không có đèn điện, phải thấp đèn dầu. Mỗi đêm chúng tôi rủ nhau ra đường Lý Thái Tổ để ngồi học dưới ánh đèn đường. Khi thấy sót ruột thì kéo nhau đi về hướng đường Hoà Bình, có khi xuống thẳng tới bến Ninh Kiều, ăn xôi trên các dỉa hè, ngấm nhìn một vòng phong cảnh hữu tình về đêm của thành phố Cần Thơ rồi rảo bước trở về nhà.

Cũng từ con đường hẽm Tài Xỉu nầy,  mỗi sáng chúng tôi lội bộ đi học cùng với nhiều bọn học trò khác, truyện trò vui nhộn trên đường nên quên đi cái mệt nhọc của đoạn đường đi bộ khoảng hai cây số đến trường. Có những buổi sáng trời đổ mưa làm con đường hẽm bị nước mưa loan lỗ, trơn trợt; nhưng ai cũng phải mặc áo mưa, che dù để đi học. Khi trời tạnh mưa, đường ướt trơn trợt mà rất vui. Bọn con trai thấy mấy đứa con gái thật dễ thương trong chiếc áo màu trắng, tay cập sách, tay cầm dù lại còn phải nắm thêm cái chéo áo dài kéo lên cao vì sợ dính bùn bởi những bước đi. Chúng tôi có đứa nghĩ thầm rằng nếu một đứa con gái nào rủi ro trợt té gần mình thì mình có dịp ra tay nghĩa hiệp đỡ giùm thì hay biết mấy! Nhưng đó chỉ là tưởng tượng để có cảm giác sung sướng tạm thời vậy thôi, chớ kỳ thực tôi chưa chứng kiến cái 'tai nạn hên' như vậy lần nào cả!

Khi lên đệ tứ tôi lại di chuyển trở vô Rạch Bần, ở chung nhà người bạn, đó là Nguyễn Văn Ngọc, học lớp D và một thằng khác tên là Tâm, tôi không nhớ họ của nó, học lớp F ở cùng quê với tôi tại Phụng Hiệp.

Tới năm 1964, học vừa hết lớp đệ nhị, tôi nghĩ học xin đi làm cho hãng RMK của Mỹ tại phi trường Trà Nóc vì công việc kiếm đước nhiều tiền cho gia đình, lúc đó bị suy sụp. Dược hai năm sau, tôi nhập ngũ. Nhờ có chút vôn liếng tiếng Anh, tôi được gởi qua trường Sinh Ngữ Quân Đội học khoá 2 Thông Dịch Viên. Sau khi tốt nghiệp tôi được biệt phái cho Sư Đoàn Bộ Binh đặc nhiệm tại Chu Lai. Từ đó cuộc đời binh nghiệp đưa đẩy tôi qua nhiều đơn vị, và cuối cùng tới Sư Đoàn 1 Bộ Binh, thuộc Trung Đoàn 54 đóng tại Long Thọ Huế. Vào năm 1970 tôi bị thương, được đưa về bệnh viện Nguyễn Tri Phương Huế nằm điều trị một thời gian rồi được chuyển về Đơn Vị Quản Trị 1 ở Đà Nẵng, chờ ra Hội Đồng Giám Định Y khoa và được giải ngũ sau đó.

Tôi về lại Cần Thơ thi vào Đại Học sư phạm, học tới năm 1975 thì biến cố xảy ra, gây đau thương tang tóc cho nhiều người từ đó. Tôi được cho ra đi dạy tại trường trung học Rạch Gòi, tới đầu năm 1976 thì được chuyển về trường Trung học Thốt Nốt. Trong thời gian dạy tại trường Trung học Thốt Nốt, đầu óc tôi không bao giờ được yên khi nghĩ tới tương lai của các con tôi, và đời sống thiếu thốn với đồng lương chết đói của một thầy giáo trung học dưới chế độ mới. Tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện ra đi tìm một cuộc sống mới, hay đúng hơn là tìm một tương lai tươi sáng cho đàn con. Chẳng bao lâu sau, tôi quyết định xin nghỉ việc trở về Phụng Hiệp làm ruộng tạm sống tá túc với ba mẹ tôi.

Từ nhỏ tới lớn tôi nào biết làm ruộng đâu, mặc dù đã từng sống ở ruộng đồng. Làm mấy công ruộng với khả năng không thích hợp tôi thấy cuộc sống gia đình càng ngày càng trở nên khó khăn. Vợ chồng tôi quyết định dọn ra riêng, di chuyển về Cái Tắc. Chúng tôi cất một căn nhà nhỏ tại ngã ba Cái Tắc mở một tiệm tạp hoá rất đơn sơ tại đây. Để phụ thêm nguồn lợi từ cơ sở buôn bán đơn sơ do vợ tôi đảm đang, tôi ra làm nghề chạy xe lôi, một thứ xe kéo bằng chiếc Honda hai bánh là vốn liếng còn lại duy nhất của gia đình tôi sau bao nhiêu năm dành dụm. Tôi hành nghề chạy xe lôi, cái nghề mà dưới chế độ cũ ít ai ưa chuộng, nhất là đối với những người có chút ít chữ nghĩa như tôi!

Trong thời gian nầy, đứa con gái lớn của chúng tôi là Loan được gởi cho bà ngoại, một phần cho bà vui nhờ có Bé Loan, một phần bà muốn chia xẻ gánh nặng gia đình cho chúng tôi trong giai đoạn sa cơ thất thế. Bé Loan ở với bà ngoại chừng 2 năm, cho tới khoảng tháng 2 năm 1976 thì xum họp với đàn em 6 đứa để tham dự cuộc hành trình đầy phiêu lưu, thử thách do tôi quyết định đưa hết gia đình vượt biên để tìm tự do và cuộc sống mới, nhất là để tạo một tương lai tươi sáng cho đàn con 7 đứa của chúng tôi. Lúc nầy, Loan, đưa lớn nhất, mới 9 tuổi, Trung mới 2 tuổi và Như thì chỉ được 1 tuổi mà thôi.

Trong lúc khốn cùng, tôi vẫn không nản chí, và luôn luôn suy nghĩ tìm cách vươn lên. Tôi nghĩ tới loài hoa sen ngoi lên từ lớp bùn đen. Cuộc đời tôi lúc đó cũng đen không khác mấy! Nghĩ tới tương lai của đàn con, trách nhiệm của một người cha không thể nào buông xui để thấy tương lai đen tối bao trùm lên chúng nó. Tôi nghĩ tới một sự vượt thoát để đem theo đàn con nheo nhóc tới một bến bờ tươi sáng hơn; nhưng lúc đó gia đình tôi đang ở tận vực thẳm của sự nghèo nàn. Toàn bộ tài sản gia đình tôi lúc đó gôm lại chưa mua lấy được một lượng vàng, khi tính chuyện vượt biên cho cả gia đình là phải có trong tay ít nhất cả chục lượng!

Thế mà cũng nhờ sự bền chí, tôi vẫn tiếp tục nghĩ tới chuyện tổ chức vượt biên. Đời quân ngũ ít nhất cũng đã tạo cho tôi sự can đảm và chút ít kinh nghiệm phiêu lưu. Tôi moi hết vốn liếng trí tuệ của mình để tạo ra cơ hội vượt biên. Từ kinh nghiệm tôi học được ở quân trường và ở sách vở. Tôi ôn lại bài học “Cuộc thám hiểm vòng quanh địa cầu” của ông Ferdimand Magellan trong quyển Anh Ngữ “English For Today” mà tôi từng dạy cho học trò tại trường trung học Thốt Nốt. Tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện vượt biển ra đi tìm tự do, đặc biệt là để xây dựng một nếp sống mới có tương lai tươi sáng hơn, cho đàn con bẩy đứa sau nầy. Tôi tự hỏi chuyến mạo hiểm bằng đường biển của ông Magellan hồi năm 1519 thật khó khăn vô cùng mà người ta còn thực hiện được thì tại sao ngày nay mình không làm được một chuyến vượt biên? Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần câu chuyện thám hiểm vòng quanh địa cầu nầy để mong có thêm một ít kinh nghiệm về đường biển mà người ta đã có thể thực hiện được trong những điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn trước đó mấy trăm năm.

Câu chuyện kể rằng, vào ngày 20 tháng 9 năm 1519, ông Ferdimand Magellan khởi hành từ bờ biển Sanlucar de Barrameda thuộc Tây Ban Nha (Spain) cùng với một thuỷ thủ đoàn gồm 240 người đi trên năm chiếc tàu bườm. Sau gần ba năm, vào ngày 6 tháng 9 năm 1522, đoàn thám hiểm của ông đã vượt qua hơn tám mươi ngàn cây số và trở về tới điểm khởi hành chỉ với 18 người còn sống sót! Trong câu chuyện vượt biển vĩ đại nầy, có nhiều phen đoàn thám hiểm đã phải đương đầu với biết bao thử thách để sinh tồn. Có lần họ phải lênh đênh trên biển Thái Bình Dương hơn ba tháng, thiếu nước, thiếu thức ăn mà phải đương đầu chiến đấu với người Phi Luật Tân, người ta đã phải uống nước tiểu và ăn cả da trâu từ dây nịt và chuột lắc để sống qua ngày.

Động năng thúc đẩy từ câu chuyện vượt biển vĩ đại nầy cộng thêm ước vọng tạo tương lai tươi sáng cho đàn con nên ý chí vượt biên của tôi đã trở nên quyết liệt hơn.

VƯỢT BIÊN LẦN ĐẦU

Vào một đêm tối trời giữa tháng 2 năm 1976, vợ chồng tôi cùng bảy đứa con lau hau bồng chống ra đi trên một chiếc ghe cui dài khoảng 14 thước. Chiếc ghe định mệnh có được là nhờ sự đóng góp lớn lao của mẹ tôi đã đồng ý cho chúng tôi bán đi phần đất hương hoả cộng thêm mớ tài sản dành dụm sau cùng của chúng tôi. Với hết mức khả năng, chúng tôi chỉ có thể trang bị được chiếc ghe nầy, với bườm, chèo tay, gạo nước và một ít thuốc men để phòng khi bệnh hoạn. Sáng hôm sau ghe chúng tôi thả theo nước xuống tới bến Bắc Cần Thơ, cho đậu vào mé sông gần chợ Cái Khế ít hôm để bổ sung thêm vật liệu và dụng cụ cần thiết.

Khoảng một tuần lễ sau đó ghe chúng tôi lại bắt đầu nhổ neo thả theo dòng nước sông Hậu Giang xuống Phụng Hiệp. Một lần nữa, ghe chúng tôi dừng lại nơi đây coi như để giã từ bà con bên nội trước khi thực sự ra đi. Nhân dịp nầy tôi đã mượn được của một người bà con mà tôi kêu bằng cậu, đó là cậu Sáu Danh, một cái máy đuôi tôm để gắn vào ghe chạy tiếp sức khi cần. Động lực chính để di chuyển chiếc ghe là cái bườm được chế tạo bằng những cái bao cát nhà binh ghép lại. Khi nào còn ở trong sông thì dùng sức mình với chèo tay để đưa chiếc ghe xuôi theo dòng nước. Khi nào thuận tiện, gió xuôi hoặc khi ra biển thì sẽ dùng bườm mà đi.

Trong suốt cả năm trời khi còn đi dạy ở trường trung học Thốt Nốt và Vỉnh Trinh, tôi đã nghiên cứu qua các tài liệu địa dư của nhà trường và nhận thấy rằng, nếu ghe khởi hành từ mũi Cà Mau thì qua tới Thái Lan, chỗ gần nhất chỉ cách khoảng 500 cây số mà thôi. Vào mùa hạ cứ thả theo ngọn gió bấc thì dự trù chẳng bao lâu ghe sẽ tới Thái Lan. Tôi nghĩ rằng, theo như câu chuyện thám hiểm vòng quanh địa cầu của ông Magellan cách đây mấy trăm năm, người ta đã có thể đi hơn 80 ngàn cây số trên biển cả bằng bườm, thì ngày nay tôi nhất định cũng sẽ có thể vượt trên dưới 500 cây số nầy để đi tìm hạnh phúc cho đàn con mình. Dĩ nhiên cuộc hành trình nầy sẽ kéo dài thời gian không nhất định. Chúng tôi chấp nhận điều kiện nầy, vì giờ đây gia đình chúng tôi đã không còn gì, chỉ còn đàn con bảy đứa; đứa lớn nhất 7 tuổi và nhỏ nhất thì còn bồng trên tay thôi. Cho dù có nhiều gian nan thử thách, nhưng với quyết tâm, kiên trì, chắc chắn một ngày nào đó, tôi sẽ đưa được bảy đứa con yêu dấu của chúng tôi đến bến bờ tự do, để nơi đó chúng nó sẽ có cơ xây dựng một tương lai tươi sáng hơn.

Vào ngày 17 tháng 2 năm 1976, khi trời vừa nhá nhem, chúng tôi cho ghe rời bến sông Phụng Hiệp, thả xuôi theo dòng nước hướng xuống Cà Mau. Tôi đứng trước mũi ghe, một mình chèo móc cho tới quá nữa đêm mới bỏ neo cho ghe dừng lại nghỉ ngơi. Hừng sáng hôm sau tôi lại tiếp tục nhổ neo ra đi. Chiếc ghe hình như lúc nào cũng chuyển động lắc lư chậm chạp vì sức đẩy không đều của tôi một mình è ạch phía trước. Có nhiều lần ghe đâm sầm vào bãi cạn hay những đống chà ven sông, tôi phải loay hoay hơn cả giờ đồng hồ mới đưa được chiếc ghe ra khỏi chỗ mắc kẹt.

Sau năm ngày năm đêm, ghe chúng tôi ra tới sông cái Hộ Phòng cách cửa biển Gành Hào chừng mười cây số. Nước sông Hộ Phòng cuồn cuộn đổ mạnh ra biển, chiến ghe vẫn ung dung trôi phăng theo dòng. Khi vừa qua khỏi vịnh, tôi không kịp lách tránh, nó lại đâm sầm vào rượng đáy của người ta. Những người coi đáy la ó rân lên giận dữ trong lúc họ vội vã cuốn đáy lên cho khỏi rách. Tôi bước lên bờ ôn tồn xin lỗi họ, nhưng họ nhất định đòi phải bồi thường thiệt hại. Tôi nghĩ thầm cho dù một đồng một chữ chúng tôi cũng không có chứ đừng nói chi nhiều! Tôi mặc kệ họ đòi bao nhiêu, cố tìm cách hoãn binh liền xuống nước năn nỉ xin tạm thế cái thẻ cử tri của Nguyệt, vợ tôi, và hẹn bận về sau vài tuần lễ sẽ ghé trả tiền bồi thường để chuộc lại cái giấy hộ thân kia. Họ nghĩ rằng chúng tôi không thể nào bỏ luôn cái thẻ cử tri bởi nó là giấy tùy thân duy nhất trong thời buổi nầy đối với chính quyền. Thế là chúng tôi được tự do thông thả cho ghe tiếp tục ra đi.

Khi trời vừa quá chạng vạng, ghe chúng tôi tới ngay cửa biển Gành Hào, neo lại đó nghỉ đêm và cũng để chờ thuận nước ra khơi. Đến độ quá nữa khuya, khi dòng nước sông Gành Hào bắt đầu đổi hướng ra biển tôi nhổ neo cho ghe từ từ tiến ra khơi, căn cứ theo cái địa bàn đeo tay mà cho ghe đi về hướng Nam. Chiếc ghe tội nghiệp từ từ tiến ra xa bờ trong dáng cô đơn yếu ớt, gió biển hắt hiu rì rào trong bao la rờn rợn. Sau khi ghe đi được chừng vài chục cây số trên biển khơi, lúc đó đã xế chiều, trời bỗng dưng nổi gió lớn; những ngọn sóng lưa thưa hiền hoà bắt đầu nhào lộn dữ dội làm chiếc ghe chòng chềnh, lảo đảo trong khi tôi vẫn ở phía sau ghì chặt tay lái để cố điều khiển nó đi theo hướng nhất định. Khoảng một giờ sau xem chừng sóng gió càng trở nên dữ dội hơn nên tôi đành phải quyết định cho ghe hướng mũi vô đất liền. Thế là sau hơn nữa ngày lênh đênh vất vã ngoài biển khơi, chúng tôi lại tấp trở vào bờ, bên trên là một khu rừng hoang vắng.

VƯỢT BIÊN THẤT BẠI

Trời cũng vừa nhá nhem tối, đàng xa, một vài chiếc thuyền lô nhô lấp ló tận ven rừng. Chốc lát những người đi làm củi từ trong ven rừng tiến ra è nhau phụ giúp đưa chiếc ghe chúng tôi vào trong rạch để tránh gió. Tôi được biết đây là rạch Bầu Cộ, cách cửa biển Gành Hào chừng 15 cây số. Chúng tôi ở nán lại đây chờ khi trời tốt sẽ tiếp tục ra đi. Với những cập mắt xoi bói, tò mò của những người làm củi, chúng tôi phải hết sức khéo léo trả lời và giữ thái độ điềm nhiên mới tránh được sự nghi ngờ của họ. Trong sự bán tín bán nghi, nhưng hình như bọn họ vẫn cho rằng chúng tôi đang có ý định vượt biên, vì có người trong bọn họ đã ám chỉ như vậy. Tôi hơi lo lắng trong lòng, sợ bị phát giác hành tung sẽ gặp nhiều rắc rối nên một mặt cố giữ vẻ bình, mặt khác thì lập tức chôn giấu cái địa bàn cùng những dụng cụ gì có thể khiến người ta nghi ngờ. Dẩu sao, ngày qua ngày chúng tôi cố hòa đồng với họ, cùng lên rừng bắt hến, nấu nướng mời ăn chung, hoặc truyện trò vui vẻ, riết rồi cũng trở nên quen thân nên sự nghi ngờ của họ dần dà rồi hình như cũng biến mất.

Ở đây trong chật vật, muỗi mòng và lo âu được khoảng mười hôm, thấy biển đã khá yên, nên một lần nữa chúng tôi quyết định lại ra khơi. Nhưng ác nghiệt thay! khi ghe chúng tôi vừa ra khỏi bờ được chừng vài trăm thước thì ùng ùng sóng dữ, gió to lại bỗng dưng đưa tới từ ngoài khơi. Chiếc máy đuôi tôm cỏn con của chúng tôi không đủ sức đưa ghe vượt qua khỏi những lượn sóng hải hùng, nên cuối cùng, ghe chúng tôi lại bị sóng biển xô tạc vào bờ. Nguyệt và bảy đứa con nằm la liệt sát dưới sàng ghe trong khi chiếc ghe vẫn tiếp tục lắc lư, chuyển động liên hồi như cố sức chống chọi với những lồn sóng hải hùng, dồn dập kéo vào từ ngoài khơi. Bọn làm củi nhìn thấy nên lập tức ùa ra tiếp cứu chúng tôi; nhưng lần nầy vì sóng đánh dữ dội quá nên họ không thể đưa được chiếc ghe chúng tôi vào trong lạch an toàn. Họ giục chúng tôi hãy tức tốc di chuyển hết lên bờ, nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng vì sóng biển càng ngày càng đập mạnh dữ dội hơn. Chúng tôi vội vã ùa nhau lên bờ rừng cùng một số đồ dùng lặt vặt, đành bỏ mặc chiếc ghe giãy giụa một mình trong phong ba bảo táp.

Sau khi lội lên bờ an toàn, chúng tôi lũ lượt băng rừng hơn vài trăm thước để đến căn trại đáy trong lạch ầu Cộ mà trong mười ngày qua chúng tôi đã từng quen biết. Lúc đó, trời đã tối sầm, đồ đạt cái mất cái còn, tất cả đều bị ướt đẵm, quần áo rách bương vì vướng cây rừng. Bây giờ chúng tôi không còn có một sự lựa chọn nào khác hơn là phải tạm thời tá túc lại đây để từ từ tìm cách trở về nhà. Nhưng thực ra, chúng tôi đâu còn có nhà để mà trở về, có lẽ phải về ở tạm với gia đình cha mẹ ruột của tôi tại Phụng Hiệp vậy. Nghĩ tới đây tôi thật vô cùng tuyệt vọng, vì chẳng lẽ tôi chịu bó tay nhìn tương lai u tối của cả bảy đứa con của mình trong cái xã hội khắc nghiệt nầy!

Tôi ngủ lịm đi hồi nào không hay vì quá mỏi mệt sau bao ngày chống chọi với phong ba bảo táp. Sáng hôm sau tôi uể oải thức dậy, nhìn xung quanh vợ con vẫn còn say ngủ. Tất cả chúng tôi ngủ chung trong một cái mùng lớn được giăng che bít hết cái sàn trại lót bằng những cây đước to bằng cườm tay. Cái sàn trại nầy thật không có chỗ nào liền lạc hay bằng phẳng cả. Nhờ có manh chiếu từ dưới ghe mang lên được hồi hôm trãi lên nên cũng đỡ bị muỗi cắn. Trong khi suy nghĩ mông lung, tôi chợt nhớ lại chiếc ghe nên bươn bả tìm đường lội trở ra mé biển để thăm chiếc ghe đáng thương của chúng tôi xem sao trong cơn sóng gió hải hùng đêm qua.

Khoảng hơn mười phút sau khi ra đến nơi, tôi bất chợt rùn mình trước một cảnh thật não lòng. Chiếc ghe yêu dấu của chúng tôi đang im lìm nằm phơi xác trên bìa rừng, cách mé biển hơn hai mươi thước. Tôi bất chợt rùng mình nghĩ đến một tương lai đen tối bao trùm. Ngoài kia sóng biển vẫn rì rào hòa lẫn tiếng lá cây rừng xào xạc tạo thành một bản trường ca nghe càng thêm thảm não. Trong giây phút bâng khuân tuyệt vọng nhìn xác chiếc ghe thân thương như cũng khổ đau cảm thông cho tâm trạng của người chủ, bỗng tiếng bước chân xèm xẹp của ai từ sau đi tới. Thì ra Nguyệt cũng lẽo đẽo theo tôi, vừa chờ đến cảnh tang thương uà lên khóc! Tôi lặng thinh, nhè nhẹ ôm chầm vai Nguyệt, rất nghẹn ngào thì thào những câu an ủi không tròn ý nghĩa. Nguyệt vẫn khóc thút thít chưa nói ra lời, tôi vẫn đăm đăm nhìn chiếc ghe tội nghiệp xác thân không còn nguyên vẹn tượng trưng cho sự thảm bại cô đơn của một người bạn đường thân tín nhất chúng tôi giờ đây đã phải hy sinh lìa bỏ cuộc đời!

Chúng tôi tiến đến gần quan sát từng những vết thương loan lỗ trên thân ghe đang nằm chơ vơ im lìm giữa những cây khô ngỗn ngang bên bìa rừng. Bên hong nó bị đâm thủng nhiều lỗ to bởi các góc cây đã bị cưa đi phần thân. Cái mui mũi và lái ghe đã bị sóng gió cuốn đi đâu mất, để lại thân ghe trơ trọi chỉ còn phần dưới lường vì mắc kẹt vào những góc cây trông thật đáng thương. Thế là hết, Nguyệt lại rùng mình rơi lệ nói không nên lời trong cơn xúc động nghẹn ngào. Tôi cảm thông tâm trạng của em, bởi chúng ta là đôi bạn đời cùng chí hướng, đã từng chia xẻ những chua cay ngọt bùi trong cuộc sống lầm than sau hơn mười năm phiêu bạt nhiều nơi trên các nẻo đường đất nước thân yêu. Tôi rối ren, tuyệt vọng nhưng cố giữ bình tỉnh, an ủi Nguyệt và đề nghị đi lùng kiếm chung quanh xem còn sót vật gì hay không. Nguyệt cũng đồng ý như vậy. Chúng tôi uể oải bước dọc theo bãi cát, quan sát đó đây đẻ tìm kiếm, góp nhặt những mảnh vụn của chiếc ghe cũng như những vật dụng còn sót lại cơn giông tố hãi hùng.

Bây giờ chúng tôi đang phải đương đầu với thực tế đầy khó khăn bế tắc trước mặt. Quá khứ gian nan hãi hùng dẫn đến cái hiện tại khắc nghiệt, oái oăm. Tài sản chúng tôi nay thật không còn gì đáng giá. Một vài bộ đồ cũ cho mỗi người, một chiếc mền nhà binh, một cái mùng lưới... tiền bạc thì không có đồng nào! Bây giờ phải tính làm sao đây? Đi đâu và làm sao có phương tiện để mà đi; còn ở lại đây thì chắc chắn không được vì làm sao vợ chồng và bảy đứa con nheo nhóc sống được giữa cái cảnh rừng già hoang vu và thiếu thốn mọi bề như thế nầy!

Ở lại căn trại đáy rạch Bầu Cộ trong cảnh chật vật và cơ cực mọi bề như vậy thêm cả tháng nữa chúng tôi mới tìm được một giải pháp duy nhất là bán đi cái xác của chiếc ghe thân thương kia để kiếm một ít tiền làm lộ phí đưa cả gia đình về quê nội ở Phụng Hiệp. Người giúp chúng tôi vẫn là anh chủ trại đáy đầy lòng nhân ái đã đùm bọc nuôi dưỡng gia đình chúng tôi hơn cả tháng nay. Anh ta cũng vất vã lắm mới cuối cùng tìm được người muốn mua.

Tôi không còn nhớ là chiếc ghe còn đáng giá bán được bao nhiêu nhưng chỉ là biết đủ tiền làm lộ phí để cả gia đình về lại được nơi an toàn. Ở đây tôi cũng muốn xin ghi thêm một sự thiếu sót đáng tiếc là tôi không nhớ được họ tên của những ân nhân đã cứu sống cả gia đình chúng tôi ở rừng Cà Mau, Rạch Bầu Cộ vào khoảng cuối tháng 2 năm 1976. Điều đặc biệt đáng tiếc hơn nữa là tôi không biết tên họ của anh chủ trại đáy Rạch Bầu Cộ đã giàu lòng nhân ái, đùm bọc nuôi dưỡng cả gia đình chúng tôi trong lúc hoạn nạn ở gữa chốn rừng già hoang vu thiếu thốn nầy suốt hơn cả tháng trời. Tôi hy vọng trái đất tròn thì sẽ có ngày gặp lại. Một khi đất nước thanh bình trở lại tôi mong sẽ tìm được những người ân đó, đặc biệt là anh chủ trại đáy ở rạch Bầu Cộ để ít nhất bày tỏ sự biết ơn sâu xa của chúng tôi.

Sau khi về lại được quê nhà an toàn, trong mình không còn một thứ tài sản gì đáng giá cả. Mọi người trong gia cha mẹ ruột tôi ai cũng hân hoan đón tiếp chúng tôi trong tâm trạng vừa vui mừng vừa ngạc nhiên lẫn xúc động trước dáng điệu tiều tụy của chúng tôi như một toán quân bại trận vừa mới thoát nạn trở về từ khu chiến. Thế rồi việc đâu cũng lại vào đó, dù nhà đơn sơ nghèo khó nhưng tình thương không thiếu. Vợ chồng và bãy đứa con nheo nhóc chúng tôi tạm ổn định trong cảnh đạm bạc nầy. Tôi thì bắt đầu tập làm nghề nông hằng ngày theo ba tôi ra đồng. Ban đầu thì tôi chỉ có thể phụ giúp những công việc lặt vặt mà thôi bởi từ trước tới nay tôi chưa hề làm công việc nầy bao giờ cả. Vợ tôi thì loay quay lo cho đàn con bảy đứa lại trong một cảnh sống hoàn toàn thiếu thốn, chật vật mặc dù có phần đở hơn là khi còn ở trại đáy rạch Bầu Cộ trước đây.

Trong cuộc bầu cử Quốc Hội đầu tiên của chính quyền cộng sản để đi đến việc thống nhất đất nước vào tháng 4 năm 1976, tôi bị bắt vì gạt hết tên các ứng viên, chỉ chừa một ni cô mà tôi còn nhớ tên mang máng là Huỳnh Liên. Sau đó tôi bị vào tù vì bị kết tội chính trị. Thời gian gần hai năm tù tôi bị đưa đi làm lao công nặng nhọc, như bao nhiêu người tù chính trị khác thời bấy giờ, nên không có gì lạ để kể ra đây.

Tôi còn nhớ Toàn và Loan, hai đứa con lớn nhất của tôi lúc bấy giờ chỉ được chín, mười tuổi, thường ngày hai chị em vẫn vô thăm tôi, mang cho tôi những món ăn lặt vặt mà tôi nghĩ rằng ở nhà mẹ con chúng nó phải có thể đã nhịn bớt phần ăn để dành cho tôi! Tôi rất cảm động mỗi gặp Toàn và Loan, bởi vì chúng nó là biểu tượng cho tình thương gia đình và lẽ sống của tôi trong lúc bị tù đày. Vợ tôi không vào thăm tôi thường xuyên vì có lẽ một phần vì bận bịu với đàn con nhỏ dại, phần khác vì còn phải lo sinh kế. Vã lại cũng có lẽ bà ngại không tránh được cơn xúc động khi nhìn thấy tôi trong cảnh lao tù. Tôi biết vợ tôi rất thương tôi với một tâm tình chân thật. Chính vì đặc tính chân thật trong tình yêu nầy mà tôi vẫn luôn luôn ghi khắc trong lòng để làm bất cứ việc gì có thể làm được để mà đáp lại cho xứng đáng. Tôi rất thương vợ tôi và các con của tôi nhất là những đứa con vẫn đang còn trong tuổi ấu thơ, đáng lẽ phải được hồn nhiên thơ thới, nhưng chúng vẫn phải chua xót khi chứng kiến cảnh tù đày của tôi. Sau nầy tôi được kể lại, mỗi lần đi thăm tôi, Loan và Toàn phải cố gắng lấy hết can đảm để vượt qua một cây cầu bắt ngang sông Phụng Hiệp dài chừng ba mươi thước. Cây cầu thật cheo leo ác nghiệt, không có tay vịn hay vách rào an toàn. Nước dưới sông chảy xiết như cắt, cuồn cuộn đêm ngày, khiến trẻ thơ phải phập phòng lo sợ khi phải cố gắng bò qua để đến thăm người cha bị tù đày bên kia bờ. Những tâm tư tình cảm của tôi cũng như của vợ con tôi trong lúc nầy chắc chắn không thể nào diễn tả cho hết được ở đây. Tôi chỉ muốn nói rằng tôi rất cảm thông và ghi nhận nỗi cô đơn và tình thương chân thật của vợ và các con của tôi trong lúc tôi đang bị tù đày. Tôi cũng không biết nói gì hơn là nguyện đem tâm huyết của mình để mong làm tròn nhiệm vụ của một người chồng và người cha sau nầy. Cái tâm huyết nầy phải được thể hiện bằng hành động cụ thể chớ không thể nào bằng lời nói suông được.

Cuộc đời tôi tưởng đã đi xuống đến tận cùng hố sâu vực thẳm. Có nhiều đêm tôi miêng mang suy nghĩ đến gia đình, đến số phận tương lai của mình, đặc biệt là của đàn con bảy đứa đang trong tuổi hồn nhiên nhưng phải bơ vơ, ngơ ngác trước cuộc đời. Không, tôi nhất định không bỏ cuộc; vì tôi còn bàn tay, tôi còn con tim và khối óc. Tôi còn có trách nhiệm với vợ con, không thể bi quan, tuyệt vọng được. Và nhờ thế mà tôi lấy lại được niềm tin - một niềm tin vững chắc vào sự quyết tâm và ý chí phấn đấu của mình. Thế rồi những tháng ngày nặng trĩu tối tăm của cuộc đời lao nô cũng trôi qua, lúc ấy vào khoảng tháng 12 năm 1977, có lẽ nhờ một phần khéo lo chạy của gia đình nhất là của má tôi,  nên tôi được trả tự do.

Trở về lại mái nhà xưa tại Phụng Hiệp, nơi vợ và các con tôi vẫn tiếp tục tá túc trong cảnh chật vật, thiếu thốn mọi bề cùng với cha mẹ ruột của tôi ở đó. Tôi trở về với một tấm thân gầy còm, nước da xám xịt vì bao ngày bị đày đọa của một kiếp lao nô. Tâm trạng nữa mừng nữa tủi hiện rõ trên nét mặt mọi người. Riêng tôi thật bùi ngùi, xúc động nhìn đàn con nheo nhóc, với những nét mặt ngỡ ngàng trong lúc ban đầu nhưng biểu lộ sự vui mừng khôn tả. Nguyệt, vợ tôi trong cái tâm trạng thật hân hoan nhưng cũng không khỏi bùi ngùi, xúc động nên không diển tả hết được những gì cần diển tả trong giây phút nầy.

Tôi hiểu rằng trong suốt thời gian gần hai năm trời khi tôi bị cầm tù, bên ngoài vợ tôi đã phải vất vã lắm mới lo đủ miếng ăn tấm áo cho đàn con bảy đứa trong một hoàn cảnh cực kỳ bi đát. Bà phải đi sớm về tối lên tỉnh đón mua từng món thuốc, gói hàng đem về bỏ lại cho các tiệm tạp hóa nhỏ ở các thị trấn thôn quê để kiếm lời mua thức ăn đem về nuôi đàn con. Hình ảnh của bà thực không khác gì một con chim mẹ sớm hôm tảo tần bay lượn đó đây, nhịn đói nhịn khát, phấn đấu cùng hoàn vũ để kiếm từng miếng mồi về nuôi đàn con khi chúng chưa đủ lớn khôn tự túc nuôi thân. Trong khi đó thì ba tôi, người cha già lam lũ suốt đời chỉ biết vất vả và vui sống với ruộng đồng. Người rất mực thương yêu con cháu nên hất lòng giúp đỡ vợ tôi, phụ lo chăm sóc thửa ruộng nhỏ mà ông đã quyết định tạm thời chia cắt để mong đến mùa có lúa có khoai mà nuôi tạm đàn cháu cho qua ngày lúc lúc tôi còn kẹt trong tù.

Khi tôi về, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là tiếp tục chăm lo công việc đồng áng và phụ giúp ba tôi ít việc lặt vặt sau vườn. Thế là cuộc đời của một người lính chiến, một giáo sư lại có khi phải làm những nghề bắt đắc dĩ để nuôi gia đình trong khi thất thế. Tuy nhiên tâm hồn tôi đâu bao giờ chịu yên phận như thế, ý chí của tôi đâu bao giờ nhu nhược, yếu hèn. Tôi cứ nghĩ vẫn vơ về cuộc đời, về sự nghiệp tương lai, nhất là về tương lai của con cái. Tôi không dám nghĩ đến chuyện vượt biên, ít nhất là trong giai đoạn nầy, mặc dù ý nghĩ vượt biên để tìm tự do và tương lai cho con cái vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của tôi. Trong thâm tâm tôi lúc nào cũng nghĩ rằng, cuộc đời mình cũng như vợ con mình nhất định không thể nào tiếp tục như thế nầy để chết già ở đây. Rồi tôi thầm quyết định phải làm một cái gì để thay đổi cuộc sống và nhất là để tạo cơ hội cho tương lai con cái mình được tươi sáng hơn.

VƯỢT BIÊN LẦN THỨ HAI

Sau khi ra khỏi tù và sau lần vượt biên thất bại, tôi không có tiền, không còn bất cứ một thứ tài sản gì đáng giá cả để mong có thể đổi làm phương tiện cho gia đình ra đi lần thứ hai. Nhưng nhờ có lòng cương quyết, tôi bắt đầu vận dụng tất cả tài trí của mình để tạo phương tiện ra đi. Kể từ đó tôi bắt đầu tìm cách liên lạc với tất cả bà con, bạn bè thân thiết xa gần, để tùy hoàn cảnh thích nghi mà gợi ý, đề nghị một kế hoạch vượt biên. Ít ra thì tôi cũng đã một lần va chạm với thực tế trong chuyến vượt biên lần đầu, dù thất bại nhưng tôi đã học được khá nhiều kinh nghiệm. Thâm tâm tôi vẫn nuôi ý chí để thực hiện một kế hoạch cũ thể là tìm người chịu bỏ ra ít vốn, mỗi người một ít thôi, nhiều người gộp lại để đủ số tiền mua một chiếc ghe, làm phương tiện vượt biên. Việc thành bại bây giờ là do tài khéo léo thuyết phục trong cuộc vận động tìm vốn nầy. Cùng với sự thỏa thuận một một vài thằng bạn khố rách của tôi, tôi còn thuyết phục được Quyển, em gái thứ năm của tôi nữa. Thực ra lúc ấy Quyển cũng không có đủ khả năng tài chánh, nhưng lại có được cái phong cách của một người tư bản khá giả trong nghề nữ trang. Chính nhờ cái lớp sơn bề ngoài nầy mà Quyển đã thành công trong việc vận động tài chánh để làm phương tiện vượt biên. Theo cam kết, tôi giao hoàn toàn trách nhiệm vận động “khách hàng” vượt biên cho vợ chồng Quyển lo, miễn sao có đủ số tiền mua chiếc tàu để đi là tôi toại nguyện rồi. Tôi được em tôi cam kết là sẽ lo được, dù lúc đó cô không có đủ khả năng mua nổi chiếc tàu trị giá khoảng 20 lượng vàng.

Thế là tôi yên tâm đi kiếm mua một chiếc tàu có tầm vóc thích hợp. Điều khó khăn nhất của tôi là lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác để tránh được những con mắt theo dõi của bọn công an địa phương, vì kể từ khi tôi ra khỏi tù chúng đâu có để tôi được yên thân hoàn toàn đâu. Từ công việc sửa tàu đến chuyện mua nhiên liệu, thực phẩm, dự trữ nước uống, quan sát dò tìm địa điểm rước người xuống tàu; tất cả điều phải tiến hành thật khéo léo mới lọt khỏi sự kiểm soát gắt gao của chính quyền cộng sản. Tôi biết rằng nếu bị bắt lần nầy thì chắc khó có ngày được tự do vì tôi chỉ mới ra khỏi tù chưa đầy một năm nay thôi. Ròng rã trong suốt sáu tháng trường, một mặt dọ mua một chiếc tàu thích hợp, một mặt dự thảo kế hoạch vượt biên cho thật chu đáo. Bao nhiêu tâm trí khả năng tôi quyết dồn hết cho chuyện ra đi lần nầy. Có hôm suốt ngày tôi không ăn, chỉ uống sửa để cầm hơi - phần vì không có thì giờ để ăn, phần vì quá mệt nên ăn không vô một thứ gì cả. Sau cùng tôi mua được chiếc tàu đò chạy trên sông Phụng Hiệp - Ngang Dừa. Chiếc tàu mang tên là Nguyên Phong, với giá 18 lượng vàng.

Gia đình Lê Thiện Phúc tại trại tỵ nạn Songkla, Thai Lan tháng 4/1978.

Hình từ trái sang phải:

- 3 trước: Lê Thiện Đức 6; Lê Thiện Trung 4, Lê Thị Quỳnh Như 3.

- 3 kế: Lê Thiện Ngôn 7, Lê Thị Quỳnh Dao 8, Lê Thị Thu Vân 11.

- 3 sau: Lê Thiện Toàn 10, Lê Thiện Phúc 35, Nguyễn Thị Minh Nguyệt 30.

Dù là loại tàu đi sông, không mấy thích hợp để đi trên biển, nhưng nhờ có máy lớn, đó là loại máy Ray-6 của hải quân, và cũng nhờ nó mang sẵn bản hiệu của một chiếc tàu hành khách nên trong lúc chuẩn bị rước khách vượt biên cũng đã tránh được sự nghi ngờ của chính quyền địa phương. Cửa biển Gành Hào là nơi được tôi quyết định chọn làm địa điểm ra khơi, vì nơi đây ít ra chính tôi cùng gia đình cũng đã có một lần đi qua trong chuyến vượt biên lầu đầu. Sau khi mua xong, chiến tàu Nguyên Phong được gắn thêm hai bộ cánh để giữ thăng bằng ở hai bên hong dưới mặt nước. Chiếc tàu được đưa xuống Cà Mau để chờ chỉnh trang và tiếp liệu. Suốt cả tháng trời tôi túc trực trên tàu cùng với chú tài công tên Huy và cậu học trò tên Dũng theo tôi từ Long Xuyên. Sau khi chúng tôi thu mua được đủ nhiên liệu cùng một số lượng thực phẩm tối thiểu rồi liên lạc về Cần Thơ, nơi vợ chồng Quyển chịu trách nhiệm triệu tập những người đã góp vốn mua tàu để sắp xếp việc di chuyển xuống Cà Mau để lên tàu.

Ngày 27 tháng 3 năm 1978, tôi dùng xe Honda hai bánh chạy về Cần Thơ thông báo và hướng dẫn kế hoạch chuyển người xuống tàu. Trên đường trở xuống Cà Mau, tôi ghé qua nhà ở Phụng Hiệp định thông báo sự việc và sắp đặt kế hoạch đưa vợ con xuống tàu. Khi rời Phụng Hiệp tôi rước theo đứa con trai xuống tàu trước với tôi, không nhớ rõ là hai đứa nào nhưng hình như không phải là hai đứa lớn vì lúc ấy chúng nó đi chơi không có ở nhà. Khi xuống Hộ Phòng, lúc bấy giờ chiếc tàu đã di chuyển đến đậu một địa điểm cặp lộ xe vùng Hộ Phòng, tôi kiểm điểm lại lần chót về số lượng nhiên liệu và thực phẩm trên tàu. Tôi qui định hai địa điểm rước người xuống tàu: một là ngay chỗ chiếc tàu đang đậu, gần bến xe Cà Mau; địa điểm nầy dành cho vợ con tôi và một vài người thân khác. Còn địa điểm thứ hai là tại một khoảng đất trống sát mé sông cập Quốc lộ 4, ở Tắc Vân, cách Hộ Phòng chừng ba cây số. Một chiếc xe chở khách giả vờ chết máy tại địa điểm thứ hai nầy, hành khách bước xuống xe trong lúc nôn nóng chờ sửa chữa. Độ chừng mười lăm phút sau, lúc đó khoảng 5 giờ chiều nhằmm ngày 29 tháng 3 năm 1978, chiếc tàu chúng tôi cũng vừa chạy tới dưới sông từ Cà Mau về hướng Hộ Phòng. Trong khi nhóm hành khách trên bờ xuống xe láo nháo chờ sửa máy thì một vài người trong nhóm chạy vụt ra mé sông đưa tay vẫy gọi ngõ ý muốn xin quá giang vì xe họ bị hư và trời thì chiều tối nên không còn chiến xe đò nào chạy qua đây nữa. Chiếc tàu đâm đầu ghé vô bờ tiến thẳng về phía đám đông hành khách. Đoàn người lũ lượt kéo nhau xuống tàu một cách thật tự nhiên như những hành khách lở đường vì xe hư thực sự vậy. Thế là phút chốc công việc bốc người lần thứ hai đã hoàn thành tốt đẹp. Tàu vừa quay mũi ra đi một đổi thì trên bờ chiếc xe đò nhỏ cũng vừa sửa xong máy và tài xế rú ga chạy vụt mất dạng về hướng Cần Thơ.

Từ Hộ Phòng tàu chúng tôi trực chỉ ra hướng cửa sông Gành Hào, sau hơn ba tiếng đồng hồ, lúc đó trời cũng vừa nhá nhem tối, chúng tôi ra đến một địa điểm cách cửa biển chừng ba cây số. Tàu neo lại tại điểm hẹn trước. Tôi ra lệnh cho mọi người trên tàu giữ hoàn toàn yên lặng để quan sát tình hình một lần chót trong khi chờ đợi chiếc “taxi” chở khách ra như đã hoạch định. Chiếc ghe máy nhỏ của ông Út Yến, người bà con cô cậu ruột với mẹ tôi, từ bớt máy tấp lại gần tàu để phối hợp việc quan sát. Chiếc “taxi” vẫn chưa thấy xuất hiện, thế là đã trễ giờ hẹn cả tiếng đồng rồi. Mọi người trên tàu hồi hộp từng giây từng phút. Tôi ra hiệu cho ông Út chạy ra cửa biển để kiểm soát tình hình tại đây một lần chót. Khoảng một giờ sau chiếc ghe “trinh sát” của ông Út từ cửa biển trở vô, thông báo cho biết là tình hình vẫn yên, nghĩa là không có dấu hiệu gì cho thấy kế hoạch ra khơi của chúng tôi bị phát giác. Ông Út là người mà chúng tôi phải mang ơn nhiều vì ông đã tình nguyện giúp chúng tôi trong trách nhiệm nghiên cứu một phần lớn về tình hình địa phương. Ông ta là người đi buôn đường sông vùng nầy nên rất am tường tình thế ở Gành Hào. Sau đôi lời cám ơn và giã biệt, giây phút ngắn ngủi nhưng rất cảm động. Tôi vội yêu cầu mọi người trên tàu còn bao nhiêu tiền Việt Nam hãy bỏ hết ra để lại cho ông Út gọi là một chút quà tạ ơn, vì dù sao tiền Việt Nam đem ra nước ngoài không xài được. Phút chốc mọi người chung góp được mấy trăm ngàn giao hết lại cho ông Út.

Lúc bấy giờ khoảng 9 giờ tối, ngày 29 tháng 3 năm 1978, tôi ra lệnh cho tàu nhổ neo sau khi chiếc ghe ông Út từ từ tách xa về lại hướng Hộ Phòng. Vẫn còn sót ruột vì chiếc “taxi” giờ nầy chưa ló dạng, dù đã trễ hẹn hơn hai tiếng đồng hồ, trước khi thực sự ra khơi tôi ra lệnh cho chiếc tàu quay đầu trở vô hướng Hộ Phòng, để xem may ra tìm gặp chiếc “taxi” để rước toán người như đã giao ước, vì họ là những người có bỏ tiền chung góp làm vốn mua chiếc tàu nầy. Lương tâm tôi buộc phải đối xử công bằng với toán hành khách trên “taxi” đến thế là cùng, vì không còn cách nào khác nữa. Tiếc thay chiếc tàu đã chạy trở vô khoảng nữa tiếng đồng hồ rồi mà vẫn không gặp chiếc “taxi”. Niềm hy vọng cuối cùng chấm dứt. Tôi cho chiếc tàu định mệnh quay đầu trở lại ra hướng cửa biển Gành Hào. Theo kế hoạch bàn thảo với thủy thủ đoàn gồm có tất cả là bốn người: Thợ máy chánh, thợ máy phụ, tài công chánh và tôi đóng vai tài công phụ vừa là chỉ huy. Tôi ra lệnh cho mọi hành khách trên tàu, lúc đó gồm tất cả là 51 người, nằm sát dưới sàn tàu. Chiếc tàu trước đó có chứa thêm mấy thùng phi nước mục đích một phần là để dự trữ nước uống, phần khác là để giúp cho chiếc tàu khẳm xuống một chút để khi những hành khách nằm sát dưới sàn tàu thì có thể ở phía dưới mặt nước sông. Lý do là để dự trù khi bị bắn thì đạn cũng không thể nào ghim dưới mặt nước được; do đó, nếu mọi người nằm dưới mặt nước thì sẽ được an toàn. Chỉ trừ có bốn thủy thủ đoàn là phải chấp nhận đứng lên đương đầu với mọi sự hiểm nguy. Tôi đứng phía trước bên cạnh tài công, còn Hải, một thằng em rễ tôi đứng phía sau, bên cạnh thợ máy. Dự trù nếu có bị bắn khi tàu chạy qua trạm kiểm soát ở cửa biển, nếu chẳng may người coi máy hay tài công có bị trúng đạn thì người phụ phải nhào vô thay thế để cho chiếc tàu tiếp tục chạy ra khơi. Nói tóm lại, kế hoạch dự trù là cho dù bị bắn tàu vẫn phải cho chạy tiếp tục chớ không để bị bắt. Việc nầy đã nghiên cứu rất kỹ về khả năng vận tốc của tàu mình so với khả năng vận tốc của tất cả chiếc tàu đánh cá có sẵn ở Gành Hào. Sau khi dọ thám nhiều lần tại chỗ, tôi rất yên tâm vì ở cửa biển nầy toàn là tàu đánh cá loại nhỏ, máy lớn tối đa là hai lóc; trong khi đó thì tàu mình chạy máy Ray 6 nên có sức mạnh hơn gấp mấy lần. Vã lại tôi nghĩ rằng một khi tụi công an biên phòng có phát giác được ra rằng tàu chúng tôi đi vượt biên thì chúng cũng không thể có đủ thời giờ đuổi theo kịp chúng tôi vì chúng còn phải mất thời gian cho nổ máy tàu. Tôi cũng nghĩ rằng vì lúc đó là 9 giờ đêm, trời tối như mực nên bọn chúng sẽ khó mà tìm gặp chúng tôi chỉ cần ra khỏi chừng 300 thước.

RA KHƠI

Đúng như dự liệu, giây phút hồi hội nhất bắt đầu khi con tàu chúng tôi từ từ chạy tới cửa biển, mũi tàu hơi chênh vô bờ giả bộ như một chiếc tàu đò đang chuẩn bị ghé vào trạm kiểm soát như mọi hôm, nhưng phút chốc bất thần quay mũi ra khơi và hú hết ga chạy vụt ra cửa biển. Trong giây phút bất thần nầy mọi người vẫn nằm sát dưới sàn tàu còn tôi thì cố ngoái cổ ra phía ngoài để nghe ngóng. Tôi chạy thẳng ra phía sau đuôi tàu để cố gắng nghe ngóng phản ứng của tụi công an biên phòng. Quả thật bọn công an biên phòng đã không phản ứng kịp; chúng không có nổ súng nhưng tôi nghe văng vẳng hình như có tiếng còi hét báo động. Chiếc tàu chạy ra khơi được hơn nữa giờ đồng hồ thì rủi thay lại vướng vào bãi cát ngầm ngoài cửa biển nên không cục cựa được. Văng vẳng từ xa nghe có tiếng máy tàu đuổi theo. Lại những giây phút hồi hộp kinh hoàng không kém gì lúc nãy khi chiếc tàu vượt qua trạm công an biên phòng. Tôi ra lệnh mọi người tuyệt đối giữ im lặng và tắt hết các ngọn đèn. Tôi trấn an họ rằng, nếu chúng ta không đẩy nổi chiếc tàu ra khỏi bãi cạn nầy thì cũng không có gì tuyệt vọng đâu, vì ban đêm trời tối như mực thế nầy nếu mình giữ yên lặng, đèn tắt hết, thì cho dù bọn chúng có đuổi theo cũng sẽ không làm sao tìm gặp chúng ta ở đây. Bởi vì chúng biết rất rõ vùng nầy là bãi cạn nên không dại dột ghim đầu vào đây như chúng ta đâu. Thật vậy phút chốc tiếng máy tàu dần dần tắt lịm như thể bọn chúng đã chạy về hướng khác. Sau gần một tiếng đồng hồ, trong lúc nước biển càng ngày càng dâng cao, anh em thanh niên nhảy hết xuống biển để đẩy chiếc tàu ra khỏi chỗ cạn. Cuối cùng chúng tôi đưa được con tàu ra chỗ sâu và cho nổ máy chạy về hướng Tây Nam.

Tàu chạy ngon trớn cho đến tờ mờ sáng hôm sau, 30/3/78, chúng tôi chỉ vừa tới ngang mũi Cà Mau, nhìn phía vào phía bờ vẫn còn trông thấy dạng rừng Cà Mau lờ mờ. Phía ngoài khơi từ đàng xa có bốn chiếc tàu chạy cùng chiều với chúng tôi về hướng Tây Nam. Tôi không rõ có phải những chiếc tàu nầy đang rượt đuổi chúng tôi hay chỉ là những chiếc tàu đáng cá lưới năm thông thường. Tôi ra lệnh cho tàu quay mũi lệch vô hướng đất liền một chút và trực chỉ chạy về hướng Thái Lan, xuyên qua bên trong Hòn Khoai. Đến 3 giờ chiều 30/3/78, tàu chúng tôi đã bỏ mũi Cà Mau khá xa, nhưng vẫn còn thấy dạng bờ biển Việt Nam lờ mờ. Bốn chiếc tàu đuổi theo ngoài khơi bây giờ cũng đã dần dần khuất dạng phía sau. Đến sáng hôm sau, 31/3/78, tàu chúng tôi hoàn toàn ra khỏi hải phận Việt Nam. Một buổi sáng thanh bình, biển trời bao la, màu nước xanh rờn, tâm hồn mọi người khoan khoái nhẹ nhàng, tưởng tượng như một đàn chim vừa được bay ra khỏi lòng tung cánh giữa bầu mộ trời tự do. Mỗi người miên man theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Tôi liên tưởng đến hình ảnh những người thân còn ở lại Việt Nam. Tôi nhớ đến hình ảnh của cha tôi lúc xuống tận bến tàu để đưa tiễn chúng tôi lần cuối. Tôi không kịp nói được một lời từ giã, đúng hơn là tôi muốn cố tránh những cơn xúc động nghẹn ngào trong giây phút chia tay. Tôi lén lao vội đôi dòng nước mắt ứa ra từ lúc nào. Tôi đắng cay xao xuyến lắm khi đành phải ra đi bỏ lại cha già mẹ yếu của tôi. Rồi tôi vụt nghĩ đến tương lai của bảy đứa con thơ, một tương lai mà tôi nhất quyết phải tìm đến, dù phải hy sinh luôn cả mạng sống của mình.

Trên tàu hầu như mọi người ai cũng đã bắt đầu say sóng, nôn mữa. Trời càng xẩm tối, sóng biển càng to, có lúc như nổi cơn thịnh nộ. Con tàu vẫn trung thành vật lộn với những lượn sóng to, nhẫn nại chống chõi với những ngọn gió lớn lúc nào cũng chòng chành, lắc lư. Cho đến khoảng 1 giờ đêm 1/4/78, khi thấy sóng biển càng lúc càng to chúng tôi bắt đầu có ý nghĩ tìm tàu ngoại quốc để xin cứu giúp. Lờ mờ từ xa, chúng tôi chợt tìm thấy rải rác một vài ánh đèn và biết chắc đó phải là những chiếc tàu đánh cá của Thái Lan. Chúng tôi trực chỉ đến thẳng một trong những ánh đèn đó. Càng lúc chúng tôi thấy ánh đèn càng rõ hơn, và cuối cùng tàu chúng tôi tiến sát lại một chiếc tàu đánh cá Thái Lan đang đậu bỏ neo ngoài khơi. Mọi người trên tàu chúng tôi vì mừng rỡ, nên la ó rân lên, làm cho chiếc tàu đánh cá hình như hoảng sợ nên vội vàng kéo neo bỏ chạy đi nơi khác! Thế là thất vọng, chúng tôi lại phải tìm đến một ánh đèn khác ở đàng xa. Lúc nầy tàu chúng tôi bắt đầu bị vô nước từ lỗ chân vịt, trong khi máy bơm nước lại bị hư, nên các thanh niên phải luân phiên nhau tác nước bằng thùng. Khoảng hơn ba tiếng đồng hồ sau, chúng tôi lại tiến sát đến gần một chiếc tàu đánh cá Thái Lan thứ hai. Lúc nầy khoảng 5 giờ sáng ngày 1/4/78. Rút kinh nghiệm lần trước, lần nầy chúng tôi ra hiệu cho nhau tuyệt đối giữ im lặng nên cuối cùng cặp sát được chiếc tàu đánh cá Thái Lan. Lập tức một người leo qua tàu Thái Lan nói bằng tiếng Tiều với bọn chúng để xin cầu cứu. Sau cuộc thương thảo chớp nhoáng, ông thuyền trưởng là người Thái gốc Tiều, đã đồng ý giúp đỡ chúng tôi, với điều kiện là chúng tôi phải trả tổn phí là 15 lượng vàng vì họ phải cuốn lưới để đưa chúng tôi vào bờ. Sau khi thảo luận nội bộ trong số hành khách trên tàu, mọi người đồng ý đóng góp mỗi người một ít để có số vàng trả sở phí cho chủ tàu Thái Lan để họ đưa chúng tôi vào bờ.

Chúng tôi phải công nhận là rất may mắn nên đã gặp được chiếc tàu đánh cá Thái Lan nầy vì ông thuyền trưởng là một người Tiều rất tử tế. Ông ta đề nghị cho mọi người dồn hết qua tàu lớn để ăn uống, nghỉ ngơi. Trong phút chốc tất cả hành khách trên tàu chuyển sang hết qua tàu Thái Lan, mọi người cảm thấy được an toàn hơn trên chiếc tàu nầy. Sau khi được kéo theo sau chiếc tàu Thái độ nữa ngày thì chiếc tàu chúng tôi đã bị vô nước nhiều nên rất khẩm. Cuối cùng đành phải chặt dây bỏ lại chiếc tàu thân yêu của chúng tôi mặc tình cho sóng gió dập dùi để cuối cùng chìm đấm trong lòng biển cả. Trong khi ấy, con tàu xa lạ vẫn tiếp tục lướt sóng, mang theo những tâm hồn ngơ ngác, hoang mang, đến xế chiều cùng ngày thì mọi người mới cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy dạng đất liền từ phía Tây, dù vẫn còn lờ mờ xa thẳm. Mọi người nôn nóng, con tàu vẫn lầm lì lướt sóng cho đến khoảng 8 giờ tối mới thực sự vào tới đất liền. Ông Thuyền trưởng báo hiệu cho mọi người di chuyển lên bờ và cho biết đây là địa phận của tỉnh lỵ Pattani, thuộc phiá Nam Thái Lan.

Khi được đưa lên khu bãi cát của bán đảo đối diện tỉnh lỵ Pattani, lúc đó khoảng 9 giờ tối ngày 1/4/1978, chúng tôi chia ra từng nhóm theo mỗi gia đình, ai có gì thì dùng cái đó, trải trên bãi cát mà nằm đở qua đêm, định sáng mai tìm đường đến trình diện trạm cảnh sát địa phương để xin đi tỵ nạn. Chẳng bao lâu sau đó chúng tôi bổng nghe có tiếng người đi về hướng chúng tôi. Đó là một nhóm người Thái Lan, tay cầm búa đe doạ chúng tôi để tước đoạt nữ trang tiền bạc. Họ lục soát đồ đạc chúng tôi, và ra dấu hiệu cho những bà có đeo nữ trang thì lột ra đưa cho chúng. Tôi chứng kiến  nhiều bà tay run rẩy vì sợ hãi, tháo gỡ các món nữ trang trong người rất khó khăn mới được. Có nhiều người lanh tay chon giấu tiền bạc, nữ trang dưới cát. Khoảng chừng 30 phút sau, bọn cướp tìm gặp túi vàng giả mà chúng tôi đã dự trù mang theo để phòng khi có bị bắt thì giao nộp để được tự do. Chúng tôi đã không bị bắt nên túi vàng giả vẫn còn và giờ đây nó trở thành vật cứu nạn cho chúng tôi, bởi vì sau khi tìm gặp túi vàng giả nầy, bọn cướp mừng quýnh vụt bỏ chúng tôi đi mất. Sau khi biết được bọn cướp đã bỏ đi, chúng tôi lập tức di chuyển nơi khác, đến một khu rậm rạp an toàn hơn.

Tờ mờ sáng hôm sau, tức là ngày 2/4/1978, đoàn vượt biên gồm 51 người với 25 trẻ em, chúng tôi lũ lượt kéo nhau đi cặp mé biển về hướng Nam, tức là hướng biên giới Mã Lai, để tìm liên lạc với chính quyền địa phương. Tới xế chiều cùng ngày, chúng tôi đến được một trạm cảnh sát nhỏ ở ven biển và trình báo về tình trạng muốn xin tỵ của chúng tôi. Đồn cảnh sát nầy chỉ có vỏn vẹn 3, 4 nhân viên mà thôi. Đây là một làng đánh cá bằng thuyền lưới nhỏ hoạt động ven biển đi về trong ngày. Nơi đây chúng tôi được cảnh sát bố trí cho tạm trú tập thể trong một ngôi đình bỏ hoang trong một khu rừng dừa lâu năm ven biển. Nơi đây không có đường xe, phương tiện di chuyển của dân làng là tàu đánh cá ven biển, khi họ muốn đi chợ mua xắm.

Chúng tôi ở đây chừng một tháng để chớ thủ tục Liên Hiệp Quốc. Ngay từ ngày đầu, dân làng địa phương tề tụ xung quanh ngắm nhìn chúng tôi như là đối tượng giải trí, có lẽ đây là lần đầu tiên họ gặp một nhóm người hoàn toàn khác lạ! Liên tiếp trong suốt thời gian chúng tôi tạm trú tại đây, ngày nào cũng vậy, dân chúng địa phương kéo đến ‘thăm’ chúng tôi từ nhiều hướng. Đàn ông, đàn bà và trẻ nhỏ đều có. Nhiều bà bồng bế con nhỏ cũng tham gia. Họ ngồi bao quanh chúng tôi trên bải cát bao la dưới rừng dừa, chủ yếu là để ngắm nhìn từng mỗi động tác trong sinh hoạt hàng ngày của chúng tôi. Riết rồi chúng tôi cũng quen dần cái khung cảnh bị “theo dõi” rất kỹ lưởng như vậy. Họ không hề có thái độ gì khác, đe doạ hay gây phiền hà cho chúng tôi. Họ có mặt với chúng tôi ngày nào cũng từ sáng sớm tới chiều tối mới tản ra về.

Một tháng tạm trú tại ngôi đình làng nầy đã gây ra nhiều dấu ấn kỷ niệm trong đời. Một kỷ niệm rất lý thú liên quan tới một trong các đứa con của tôi đó là Trung, lúc nầy mới 4 tuổi. Trong lúc mẹ nó tắm cho nó trong phòng tắm được che bao quanh bằng lá dừa, thì bổng nhiên nó tung cửa chạy ra ngoài, rược đuổi theo một đứa con nít địa phương, khiến cho đứa nhỏ nầy chạy trối chết. Tôi và mẹ nó chạy đuổi theo bắt Trung lại trở vô tiếp tục tắm. Hỏi ra lý do thì mới biết thằng Trung đã tung cửa chạy đuổi theo đứa trẻ địa phương nầy bởi vì đứa trẻ đó vạch vách phòng tắm để coi lén khi Trung đang được mẹ nó tắm bên trong! Lẽ tất nhiên khi đuổi theo thằng nhỏ như vậy có lẽ nó quên là mình không có mặc quần áo gì hết! Đó là một chuyện vui có thật trong đời sống vượt biên của gia đình tôi.

Một kỷ niệm khác là trong thời gian nầy, một phụ nữ trẻ trong nhóm chúng tôi không thể chờ đợi lâu hơn khi cái bào thai của bà ta càng ngày càng lớn dần. Bà được đưa đi bệnh viện bằng một chiếc tàu nhỏ để sinh em bé. Thế là nhóm chúng tôi bây giờ là 52 người!

Có một lần chúng tôi còn được xem phim chiếu trong một cái rạp dã chiến dàn dựng trên bải cát, bao quanh bằng tàu dừa, không có mái che, nên có thể gọi đây là rạp hát lộ thiên! Chương trình giải trí nầy chỉ dành riêng cho chúng tôi, dân làng địa phương không ai được vào xem. Phim truyện xã hội nói tiếng Thái được chuyển dịch trực tiếp sang tiếng Anh tại chỗ, do một người điều khiển. Cái tài chuyển dịch của người điều khiển vô cùng độc đáo. Đó là một người đàn ông trung niên, nhưng giọng chuyển dịch của ông ta biến chuyển theo từng vai trong phim, với nhiều giọng điệu khác nhau, theo từng tình huống: già, trẻ, nam, nữ, ông ta đều phát âm được hết, khiến cuộc chiếu phim ngoài trời nầy vô cùng lý thú cho chúng tôi.

Một thú vui khác trong thời gian ở đây là chúng tôi được thấy tài biểu diễn ‘hái dừa’ của một chú khỉ do một người điều khiển. Dưới sự điều khiển bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, chú khỉ phóng nhanh từ mặt đất lên ngọn dừa rất cao, khoảng 30 thướt. Chú khỉ bắt đầu đạp xuống một trái dừa, khi người điều khiển ra lệnh thì hoặc tiếp tục đạp xuống hàng loạt những trái dừa khác cùng một buồng, hoặc tìm thử buồng khác cho đến khi được lệnh từ người điều khiển thì mới thi hành! Ngoài ra chú khỉ khi đang ở trên ngọn dừa còn có thể chuyền sang một ngọn dừa khác thật tài tình và rất hồi hộp cho người xem từ mặt đất.

Trong thời gian nầy thỉnh thoảng chúng tôi nhận được một ít đồ tiếp tế của các hội từ thiện như quần áo và các loại nhu yếu phẩm. Hàng ngày, những thanh niên, đàn ông khoẻ mạnh trong nhóm chúng tôi thường phụ giúp dân chài lưới, như đẩy thuyền xuống biển mỗi sáng sớm, và kéo thuyền lên bvải cát mỗi buổi chiểu. Có khi một vài người trong nh1om chúng tôi còn theo họ ra biển để kéo lưới bắt cá. Đáp lại dân chài lưới cho cá chúng tôi ăn mỗi ngày.

Khoảng một tháng sau chúng tôi được chuyển đến trại tỵ nạn Songkla, thuộc thành phố Pattani, Thái Lan. Ở trại nầy đây chừng 7 tháng, gia đình chúng tôi được đi định cư tại Úc vào ngày 26 tháng 10 năm 1978.

Khi đến Úc, gia đình chúng tôi được đưa bằng xe bus thẳng về chung cư East Bridge hostel ở Nunawading, gần Mitcham. Cũng như tại nhiều hostel khác, chúng tôi được phân phối phòng ngủ rất tiện nghi, tuỳ theo số người trong gia đình. Gia đình chúng tôi được cấp hai units, trong mỗi unit có 3 phòng ngủ, phòng tắm và toilet, nhưng không có nhà bếp, tức là không có chỗ nấu ăn, bởi vì mọi người đều đi ăn tại một phòng ăn chung, mỗi ngày 3 bửa, sáng, trưa, chiều. Ở chung cư có đủ các phương tiện và dịch vụ như xã hội, giáo dục và ý tế. Mỗi ngày chúng tôi đi học tiếng Anh, người lớn theo lớp người lớn, trẻ con theo các lớp dành cho trẻ con. Chi phí cho mọi thứ tại hostel đều được trang trải từ tiền cấp dưỡng an sinh xã hội của mọi người ngay từ ngày đầu tiên đặt chân đến Úc. Thời gian ở lại hostel tuỳ theo ước muốn của mỗi gia đình. Có người ở lại trong nầy tới cả năm, nhưng trong thời gian ở đây thì tiền cấp dưỡng của họ bị trừ đi gần hết. Riêng gia đình chúng tôi thì ở tại hostel nầy chừng 7 tháng, rồi xin dọn ra ngoài. Căn nhà mướn đầu tiên của chúng tôi là ở Richmond, vì nơi nầy có nhiều việc làm và có một tiệm tạp hoá Á Châu. Sau nầu tôi biết đây là tiệm tạp hoá Á Châu duy nhất trong vùng Melbourne, đó là tiện Oanh.

Qua năm sau, tức là năm 1978, vào tháng 6, tôi xin được một việc làm ở phòng nhân viên hãng xe Ford tại Broadmeadows, Victoria. Đây là công việc đầu tiên của tôi tại Úc và cũng là kết quả đơn xin việc đầu tiên của tôi. Làm tại đây trong ngành quản trị nhân viên, đến năm 1981, tôi ghi danh theo học tại trường đại học RMIT trong ngành Giao tế Kỹ nghệ (Industrial Relations). Vì học part time nên phải mất tới năm 1985 tôi mới lấy được mãnh bằng đại học đầu tiên tại Úc với nhiều gian nan.

Tôi còn nhớ trong số những người thầy, có ông Bill Cherrey dạy tôi môn luật Lao Động. Khi quyết định cho tôi được điểm 'Pass' để tôi lấy được mãnh bằng đại học đầu tiên tại Úc. Ông mời tôi vào phòng riêng để bàn về điểm thi môn nầy. Tại đây ông đã 'phán' cho tôi một lời khuyên 'ân huệ' để đời; ông nói rằng "kỳ nầy tôi cho anh điểm 'Pass' nhưng tôi khuyên anh đừng nên học thêm một khoá học ở cấp đại học nào nữa, bởi vì anh sẽ không thành công đâu!" Tôi đau vì cái lời khuyên 'ân huệ' nầy, hay nói đúng hơn là vì tự ái, cái tự ái tối thiểu của một con người bình thường!

Thêm một cú shock nữa lại đến với tôi sau đó là khi lấy được mãnh bằng về Giao tế Kỹ nghệ (Industrial Relations) những tưởng đã được thăng cấp trong công việc làm; nhưng ông 'boss' tôi, đó là ông Doug Taylor, trong cuộc phỏng vấn để cứu xét việc thăng cấp cho tôi, đã phán cho một lời khuyên nặc mùi kỳ thị chủng tộc! Ông nói rằng, mặc dù tôi có đủ tiêu chuẩn thích hợp cho chức vụ 'Personnel Officer' để vào chánh ngạch trong ngành quản trị nhân viên, vì tôi có đủ điều kiện thâm niên và bằng cấp; nhưng rất tiếc tôi không thích hợp vì một yếu tố khác, đó là 'personality'! Ôi chao! Lời phê hoa mỹ của ông Taylor làm tôi đau xót biết bao cho một kiếp sống lạc loài ở một nơi không phải là quê hương cội gốc của mình! Từ đó tôi mới nhận ra rằng thế nào là cái phong cách 'lịch sự Tây phương'. Người ta luôn luôn có sẵn trên đầu môi chót lưởi những  tiếng 'thank you' và 'please' trong đối đáp hàng ngày. Người Việt mình khi nói tiếng Anh mà quên mấy tiếng đó liền bị người ta cho rằng thiếu lịch sự. Đối với những trường hợp không liên quan gì tới quyền lợi thì hình như người ta không hẹp hòi ban bố cho những lời tán thưởng vô tội vạ: Very nice, wonderful, great! Nhưng trên thực tế ai mà đoán được cái thâm tâm của người nói lời tán thưởng như vậy! Thôi thì thà rằng mình đừng được khen; chỉ cần được đối xử công bằng trong cái xã hội văn minh nầy là quá đủ rồi!  Nếu người ta không tự nhân danh trí tuệ hay quyền lực một cách chủ quan và không xác thực, thì đở gây ra đau xót cho người khác biết bao!

Lời khuyên 'ân huệ' của ông Bill Cherrey và phán quyết nặc mùi kỳ thị chủng tộc của ông Taylor chẳng những đã không làm tôi chùn bước mà còn khích động ý chí kiên cường của một con người biết tự trọng - giấy rách giữ lấy lề, để ngoi lên từ vực sâu tăm tối. Chính nhờ có ý chí mạnh mẽ mà tôi đã thành công ít nhất là trong lãnh vực giáo dục tại Úc. Cũng chính nhờ có ý chí mạnh mẽ mà tôi đã  đưa được đàn con bảy đứa đến bến bờ tự do trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, tuyệt vọng.

Tôi ước mong những người trẻ hôm nay, nhất là những người ở trong môi trường hải ngoại nầy, đừng quên rằng mình đang ở trong môi trường có rất nhiều cơ hội để thành công, đừng quên rằng có rất nhiều đồng hương mình đã và đang lặn hụp trong cảnh đời tối tăm tuyệt vọng hơn mình nhiều; nhưng họ vẫn kiên cường ngoi lên từ những hố sâu tăm tối trong cuộc đời.

Lê Thiện Phúc

Melbourne cuối đông 2006

Phụ chú:

Trong câu chuyện nầy lời khuyên của ông Bill Cherrey hoàn toàn không chính xác; bằng chứng là liên tục trong khoảng thời gian từ năm 1985 tới năm 1994, tôi đi làm full time và học part time, đã tốt nghiệp thêm một bằng cử nhân và hai Masters. Riêng trong năm 2002, tác giả ghi danh ở một viện Đại học để lấy bằng hậu cử nhân Sư phạm TESOL, lại vừa được một viện Đại học khác chấp thuận cho tiến hành nghiên cứu một chương trình Tiến sĩ về Linguistics; nay luận án đã hoàn thành và sẽ đệ nộp trong năm 2008. Qua kinh nghiệm trong bài nầy ta thấy rằng khó khăn nào cũng sẽ vượt qua với một ý chí mạnh mẽ của con người.