Bộ ngựa gơ

của ba tôi

truyện ngắn

L ê Cầ n Th ơ

 

Vậy là bộ ngựa gơ của ba tôi vĩnh viễn không c̣n trong ngôi nhà của ba nữa Ờ bộ ngựa mà ba trân trọng giữ ǵn như một báu vật trong đời, kể từ khi ông bà ngoại cho ba má "làm của hồi môn" lúc cưới nhau đầu thập niên 1930 Ờ khi đó ba vừa tṛn 25 tuổi và má nhỏ hơn năm tuổi. Bộ ngựa gơ gồm có ba miếng ván gơ mun ghép khít nhau, mỗi tấm có độ dầy đến một tấc hai phân, đặt trên hai con bọ ngựa cũng bằng gơ được trổ mộng rất nghệ thuật, không thấy bất cứ dấu đinh nào. Mặt bộ ngựa có viền khảm xa cừ xung quanh thật đẹp, được lau chùi thường xuyên nên lên nước bóng ngời, những buổi trưa nắng mà nằm lên đó cảm thấy mát lạnh. Ông ngoại tôi trước đây làm trong ban viên chức hội tề của xă và có dịp mua bộ ngựa đó về đặt ngay trong pḥng khách của ngôi nhà ba gian hai chái, mà dàn cột kèo bằng gỗ tốt, các cột đều bào tṛn bóng lộn. Mái nhà thay v́ lợp ngói âm dương, ngoại tôi lại lợp bằng lá tàu tách bẹ chớ không phải lá chầm. Ngoại nói cách lợp đó trong nhà mát mẻ quanh năm và cũng vài ba năm mới lợp lại một lần. Đúng ra khi cưới vợ th́ ba tôi vào ở rể như nhiều gia đ́nh khá giả vào thời đó, nhưng ông bà ngoại tránh những điều tiếng không hay nên cho cất một căn nhà nhỏ phía bên kia con mương để con gái và rể ra riêng liền sau đám cưới, trên vuông đất hai công có thể trồng trọt đôi ba cây ăn trái, nên ba má không đem bộ ngựa về, phải gởi lại nhà của ông bà ngoại. Ban đầu ông bà ngoại rầy, cứ đem về nhà, v́ đó là "tài sản" mà ba má tặng vợ chồng con. Nhưng ba má cứ nài nỉ gởi lại, nêu lư do chờ khi nào "ăn nên làm ra", có nhà lớn sẽ đem về. Bởi vậy bộ ngựa gơ vẫn c̣n ở lại nhà ông bà ngoại đến nhiều năm sau đó. Rồi chiến tranh xảy ra, nhất là lúc quân đội viễn chinh Pháp chiếm đóng nhiều nơi, tổ chức những cuộc càn quét Việt Minh trong vùng nông thôn, th́ nhà của ông ngoại trước sau bị đốt đến ba lần. Mặt bộ ngựa gơ bị cháy sém nhiều chỗ, và ngôi nhà ba gian hai chái của ông bà ngoại không c̣n nữa, phải cất lại căn nhà nhỏ hơn để ở, ba má mới khiêng về đặt bên nhà nhỏ của ḿnh.

Như trên tôi có nói, bộ ngựa như một báu vật trong đời của ba, bởi hai lư do, thứ nhất là suốt cuộc đời trai trẻ cho đến ngày lập gia đ́nh, ba là một thanh niên nghèo, trôi giạt từ miệt Ba Vát Mỏ Cày ở Bến Tre qua tới làng Trường Long "khỉ ho c̣ gáy" ở đậu đạc để làm thuê làm mướn sinh nhai th́ làm sao có đủ khả năng để mua nổi một bộ ngựa gơ quư giá đó; hơn nữa chưa có gia đ́nh nhà cửa th́ mua để làm ǵ. Trong một buổi chiều mưa dầm tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm, cái năm mà bom B52 ném sập ngôi giáo đường của nhà thờ Ông Hào bởi tiểu đoàn Tây Đô của Việt cộng đặt khẩu pháo pḥng không tại ngay tháp chuông bắn phi cơ bay qua đó, tôi ngồi hỏi chuyện ba tôi về nghề đăng cá để viết bài cho nhật báo Miền Tây trên mục "Tấc Đất Ngọn Rau" do thi sĩ Kiên Giang phụ trách, vui miệng ba tôi kể luôn chuyện lưu lạc từ Bến Tre qua Cần Thơ rồi cưới được vợ với bộ ngựa gơ làm "của hồi môn" như vậy... Thứ hai là, nhờ bộ ngựa gơ "làm vật che thân" cho cả gia đ́nh tôi trong một đêm đạn pháo binh mà thời đó tuổi trẻ chúng tôi gọi là "ô buưt" từ chợ Phong Điền bắn vào miệt Trường Long rớt ngay căn cḥi che ngoài bờ vườn của gia đ́nh gồm có Má, anh trai, tôi và đứa em gái đang nằm ngủ trong "trảng xê" năm 1953, tức là trước năm đ́nh chiến. Đêm đó ba đi đăng cá trong kinh Chệt Thợ, sáng ra chèo ghe về, nh́n cảnh tượng kinh hoàng mới thất vía kinh tâm. May mắn là tất cả gia đ́nh tôi vẫn c̣n sống sót nhờ ngủ trong hầm "trảng xê" bên trên lót bằng bộ ngựa gơ dày một tấc hai, đắp đất vun cao cả thước. Trái đạn chạm xuống nổ tung, hất hết lớp đất phía trên để ḷi mặt ngựa gơ ra ngoài, trong hầm má con chúng tôi như bị hất tung lên nhưng chẳng thương tích ǵ, thật là điều kỳ diệu. Bộ ngựa gơ quá nặng, mỗi tấm ván tới mấy người khiêng mới nổi. Có lẽ nhờ nặng như vậy nên suốt nhiều năm chiến tranh, bao nhiêu lần lính Tây lính ta cùng vô bố ráp quê tôi vẫn "tha" không thèm chở đi, trong khi những tô chén dĩa kiểu của ông bà ngoại cho mỗi lần "chạy Tây" ba má tôi đều bỏ xuống mương vườn để giấu, hoặc bị xom bể, hoặc bị ṃ lên lấy đi mất tiêu, mỗi lần một số cho đến sau nầy chẳng c̣n cái nào cả. Mười lăm cái lu mái dầm dùng đựng lúa giống và nước mưa để uống, nếu không bị lấy đi th́ cũng bị giộng báng súng lủng đít hết, ba má tôi phải t́m cách trét vá lại để xài. Thuở đó, chạy Tây liên tục như ăn cơm bữa, và giống như chuyện đùa giỡn, v́ lính chỉ đi dọc theo con đường đất hai bên bờ sông chớ không đi lùng sục ngoài vườn ruộng như thời chiến tranh sau nầy. Cứ mỗi đêm, khoảng ba bốn giờ sáng, dân làng ai nấy đều thức dậy nấu nồi cơm với kho nồi cá rồi thúc giục con cái xuống xuồng chèo chống vào Kinh Mới, Chệt Thợ, Hội Đồng Quỳ... chỉ cách bờ sông ngă cái chừng ba bốn cây số đường chim bay, xuồng đậu ken nhau trên ḍng kinh bề ngang chưa đầy mười mét để "trốn Tây". Phần đông chạy Tây là đàn bà và trẻ con, c̣n trai tráng và đàn ông th́ ở lại chạy sau cùng bằng đường bộ, hoặc theo vào khu vực trốn Tây với đoàn xuồng ghe đi trước, hoặc "chém vè" ngoài bờ ruộng hay lung đ́a nơi đồng trống có nhiều sậy, đế chằng chịt, v́ biết chắc lính Tây chẳng bao giờ bén mảng lục soát ngoài đó. Ḍng kinh Chệt Thợ cũng như kinh Hội Đồng Quỳ đều băng qua cánh đồng trống bạt ngàn thỉnh thoảng mới có bóng mát của rặng trâm bầu. Buổi trưa nắng chang chang như thiêu như đốt cũng ráng chịu đựng và mong đợi có cơn gió hiếm hoi vụt thổi qua cho đỡ oi bức. Theo dơi bước chân của lính Tây bằng cách nh́n những bựng khói với các tàn tro bụi lá quyện lên cao do những căn nhà bị đốt là biết chúng đă đi tới đâu. Thường th́ khoảng ba bốn giờ chiều lính đi bố ráp bắt đầu rút về Phong Điền. Bà con lại lục tục chèo chống trở về căn nhà của ḿnh th́ trời chạng vạng tối. Không phải nhà nào cũng bị đốt, nhưng chắc chắn một điều, cuộc bố ráp nào cũng có một vài căn nhà làm mồi cho "bà hoả", và dĩ nhiên "màn trời chiếu đất" sẽ đến với những gia đ́nh bất hạnh đó. Bây giờ nhắc lại chuyện "chạy Tây", tôi cảm thấy buồn cười cho sự hiểu biết hết sức ngây ngô của bà con quê tôi thời đó. Bởi v́, tôi c̣n nhớ có lần đoàn ghe xuồng chạy Tây của dân làng đậu dọc dài trên Kinh Chệt Thợ, giữa trưa nắng th́ trên đầu có máy bay "đầm già" Ờ mà sau nầy lớn lên tôi mới biết đó là máy bay quan sát L19 Ờ bay qua đảo lại trên đầu. Dưới nầy nhiều tiếng kêu hú inh ỏi của người lớn, bảo chúng tôi hăy im lặng, đừng cười giỡn lớn tiếng trên máy bay nghe sẽ bỏ bom chết hết! Chúng tôi c̣n nhỏ, xem chạy Tây như là chuyện chơi chẳng biết ǵ là nguy hiểm, nên cứ cởi quần áo nhào xuống ḍng kinh lặn hụp, đùa giỡn bởi trời quá nóng, rồi ṿ đất sét chọi nhau khiến người lớn phải từng chặp rầy la, hết đầu nầy tới đầu kia... Sau nầy hiểu ra, máy bay quần trên đầu quan sát thấy hết, biết bên dưới là thường dân trẻ nít nên chúng để yên không huy hiếp, chớ nếu cần th́ đă giết hết chúng tôi rồi. Một hôm chạy Tây trở về, bà con ai về nhà nấy. Má và mấy anh em tôi đậu xuồng tại mương ranh đất giáp nhà thím Ba Xuồng, sau khi cột dây cẩn thận, mẹ con lục tục bước lên bờ với nồi niêu và tấm đệm, đi vào nhà. Mới vừa tới sân trong bóng tối chập chờn th́ nghe tiếng hét lơ lớ giọng "Việt Minh... phơ" cùng lúc với tiếng lách cách (về sau mới biết đó là tiếng kéo cơ bẩm lên đạn). Lập tức có tiếng người Việt Nam la lên: "Đứng lại, đứng lại, giơ tay lên đầu, đừng đi nó bắn!". Mấy mẹ con chúng tôi hoảng quá làm theo lời của người kia. "Tất cả ngồi xuống". Rồi người đó bước tới trước mặt chúng tôi, bấm cái đèn xẹt qua xẹt lại hỏi: "Có tất cả mấy người? Đàn ông đâu?". Má tôi nói: "Bốn người, tôi với ba đứa con". "C̣n chồng bà đâu? Có làm Việt Minh không?". "Dạ hổng có. Chồng tôi đi đăng cá vài bữa mới về một lần". "Thiệt vậy không?". "Dạ thiệt mà". "Nhà bà ở đâu?". "Dạ nhà nầy của tôi". Vừa nói, má vừa đưa tay chỉ vào căn nhà trước mặt. "Cứ ngồi đó, chờ tôi thưa lại cho quan biết". Người lính Việt Nam bước lại nói ǵ với thằng Tây mà anh ta bảo là quan. Chút sau quay lại nói: "Quan Một bảo cho vô nhà nhưng ở trong đó không được mở cửa ra ngoài sẽ bị bắn chết. Để sáng ra quan tập họp bà con lại nói chuyện, nhớ chưa?". "Dạ nhớ!".

Đó là lần sau cùng của những trận đốt nhà do lính Tây đi bố ráp vào làng Trường Long của chúng tôi, bởi v́ bà con lầm tưởng là Tây đi bố rồi rút về như những lần trước, nào ngờ chúng ở lại để đóng đồn tại vàm Ông Hào. Tôi nhớ đó là đầu mùa đông năm 1953. Những ngày kế tiếp cả lính Tây lẫn lính Việt đi tới đi lui, kêu gọi đàn ông thanh niên phải đến tham gia phát quang xung quanh chỗ nền làm đồn trên đất mợ Năm Hơn phía bên kia sông thuộc ấp Trường Thọ. Phía bên nầy sông cái đối diện nền đồn thuộc ấp Trường Thuận có đám cây bố dầy đặc của đất cậu Sáu Đường Láng th́ phải dùng dao phảng chặt hết để nh́n ra tới cánh đồng. Nói chung là tất cả cây cối xung quanh chỗ đóng đồn phải san bằng cho tầm nh́n được xa. Đàn ông thanh niên khoẻ mạnh th́ đào đất đấp nền, làm bờ thành của đồn, rào kẽm gai...; nhà nào không có đàn ông th́ đàn bà phải làm thế nhưng công việc nhẹ. Ba tôi ở trong kinh Hội Đồng Quỳ gần một tuần, thấy t́nh thế quá kẹt, phải chèo ghe đăng trở về đậu dưới mé sông. Buổi chiều đó người lính Việt Nam dẫn ba tôi tới chỗ quan một của Tây nói ǵ đó, hắn ta gục gặt đầu bảo "Nông Việt Minh, tre-ven, tre-ven". Người lính Việt giải thích cho ba hiểu, Quan Một nói "Không phải Việt Minh, tốt lắm, tốt lắm". Và anh ta dặn ba, mỗi ngày phải đến làm đồn với bà con trong làng cho mau rồi, lính sẽ rút đi chỉ để một đơn vị ở lại giữ đồn, bảo vệ cho bà con làm ăn, không cho bọn Việt Minh về phá phách và vơ vét thuế má nữa! Bởi tới lui đóng đồn suốt mấy tuần lễ, ba mới thấy cái dĩa kiểu con cá thật lớn của ông bà ngoại cho khi trước chỗ thằng Tây quan Một ở mà lúc chạy Tây ba đă ném giấu dưới mương phía sau vườn. Có một lần ba nói với người lính Việt Nam: "Cái dĩa con cá của tôi, nhờ Ông đội hỏi xin lại giùm tôi". Người lính Việt Nam nói với thằng Quan Tây, nó gục gặc đầu, khiến ba mừng thầm trong bụng nghĩ là nó bằng ḷng trả. Nhưng người lính Việt mà có lần ba nghe có người gọi thầy đội cho biết: "Quan nói để khi đóng đồn xong rút đi quan sẽ cho lại!". Ba tin là sẽ xin lại được nên không nhắc tới nhắc lui nữa. Một hôm, thầy đội Việt nọ lại nói: "Quan rất thích bộ ngựa gơ nhà anh, nhưng nó nói nặng quá chắc không đem đi được đâu!". Ba lại chưng hửng, v́ nếu thằng quan Tây mà lấy bộ ngựa gơ th́ vật kỷ niệm quư báu của ông bà ngoại tặng cho xem như mất tiệt mà chắc ǵ trong đời ba mua lại được". Rồi ba thầm van vái trong bụng "ba má sống khôn thác thiêng, phù hộ cho vợ chồng con, xui khiến cho thằng Tây đừng lấy mất bộ ngựa gơ quư báu đó!".

Đồn làm xong. Hôm lính rút đi, ba có nhắc cái dĩa kiểu con cá, thầy đội Việt nói là khi đưa ra tới chợ Phong Điền, quan sẽ trả lại. Ba chèo ghe chở đồ đạc lỉnh kỉnh, chẳng biết của quan Tây hay của thầy đội Việt Nam, có nhiều đồ kiểu, mà cái dĩa con cá thật lớn nằm lẫn lộn trong đó. Ra tới cầu tàu Phong Điền, chỗ mà lính Tây thường giết người ném xuống sông trôi lềnh bềnh những năm trước, thầy đội Việt bảo ghé lại và tiếp chuyển đồ lên bờ. Ba tôi nhắc lại cái dĩa, thầy đội bảo: "Anh cần th́ t́m mua cái khác. Quan nói rất thích muốn giữ cái nầy!". Từ lúc dọn đồ xuống xuồng cho đến khi ra tới bến Tàu nầy, ba chẳng thấy mặt thằng quan Một của Tây lần nào cả. Ba tiu nghỉu bước xuống xuồng chèo về mà không dám quay lại nh́n, với ḷng vừa tức vừa buồn rười rượi.

Đất nhà ba cách đồn mấy trăm thước phía bên kia sông, nhưng lại nằm trong tầm súng phúng lựu của đồn. Bởi vậy rất sợ ban đêm Việt Minh về bắn phá, lính sẽ bắn trả nguy hiểm, ba mới đắp đất tu bổ lại cái hầm "trảng xê", nhưng sau đó lính đồn bảo phải phá bỏ, lư do tụi Việt Minh có thể núp trong đó đánh phá đồn.

Sau ba lần ông bà ngoại bị Tây đốt nhà, rồi v́ tuổi già cũng lần lượt qui tiên, ba má đem bộ ngựa về nhà ḿnh. Đồn Ông Hào cất xong, việc đi lại chợ búa dễ dàng, bởi cái trạm của Việt Minh đặt chỗ vàm Ông Hào đâu c̣n nữa. Hồi trước, ai muốn ra chợ Phong Điền hay Cái Răng, khi bơi xuồng ngang phải ghé tŕnh giấy cho phép của ủy ban kháng chiến địa phương. Khi đi chợ về phải ghé cho cán bộ gác trạm xuống kiểm soát đồ đạc mới được đi. Nhiều khi họ gởi mua món nầy món kia.... nhưng ít khi đưa tiền. Mà đi chợ th́ phải xài tiền xanh (tiền đông dương, tiền giấy con voi?), trong khi trong vùng th́ xài tiền của kháng chiến, tiền có in h́nh Cụ Hồ, giá trị xài như lơm chuối. Ai có nhiều tiền phải đựng bằng bao bố tời! Bộ ngựa bây giờ đă loang lổ vết cháy sém trên mặt, mấy h́nh khảm xa cừ chỗ c̣n chỗ mất, ba mới mướn ghe lớn chở ra trại cưa ở Cái Răng mướn cưa xẻ làm ba bộ, mỗi bộ có bề dầy khoảng hơn 3 phân. Như vậy nhà ba má bây giờ tới ba bộ ngựa gơ chớ không phải một bộ. Thấy không có chỗ kê, phần v́ gia đ́nh cần phải mua sắm đồ đạc trong nhà, ba má kêu người ta bán đi một bộ, có người lại đ̣i mua bộ có mặt khảm xa cừ dù đă bị cháy sém. Suy đi nghĩ lại, ba bằng ḷng, v́ để lại chắc ba không thể có khả năng mướn người "phục chế" lại đẹp như xưa được. C̣n lại hai bộ kê tại pḥng khách, từ ngoài bước vô nhà, bên trái một bộ, bên phải một bộ, chính giữa là bàn thờ gia tiên và có một bộ bàn tṛn với mấy cái ghế đẩu để ngồi uống nước.

Năm 1965, khi nhà thờ Ông Hào bị máy bay B52 ném bom sập thính đường và gác chuông, cả họ đạo trong rạch Ông Hào nhà nào cũng có người chết, bà con lần lượt bỏ xứ để ra chợ sinh sống. Ba má thấy không khí chiến tranh bắt đầu tái diễn trên quê hương ḿnh nên cũng bàn nhau gồng gánh ra Xóm Chài Cần Thơ t́m chỗ cất nhà để ở. Ba đă khiêng một bộ ngựa gơ ngâm dưới một cái mương sau vườn, hy vọng hết chiến tranh th́ về lại moi lên xài, chắc không bị mục đâu? (Ba nghĩ đơn giản là chiến tranh không kéo dài). C̣n một bộ th́ chở theo ra Cần Thơ. Sau đó, vùng quê Trường Long trở nên địa bàn hoạt động của tổ chức mệnh danh là mặt trận giải phóng miền Nam. Đồn bót bị phá sập không c̣n nữa, nên ba má cũng không có dịp đặt chân trở lại vườn quê. Sau biến cố Mậu Thân, quân lực VNCH phát triển mạnh khi luật tổng động viên ban hành, nhiều đơn vị địa phương quân tân lập được h́nh thành tại các tỉnh th́ đồn bót được dựng lên khắp nơi. Trường Long cũng có mấy đồn. Đầu thập niên bảy mươi công cuộc cải tổ hành chánh công vụ của chánh quyền diễn ra, các viên chức xă ấp lần lượt được bầu lên. Dân chúng tản cư những năm trước rủ nhau trở về ngày càng đông. Ba Má cũng theo ḍng người đó trở về quê cũ. Công việc đầu tiên sau khi cất lại cái nhà một gian một chái để hai ông bà ở (v́ lúc đó mấy anh em chúng tôi đă đi lính và lập gia đ́nh hết rồi) mà chăm lo sửa sang vườn tược với mấy công ruộng. Việc thứ hai là vét mương để mang bộ ngựa gơ lên, nhưng t́m hoài không thấy đâu. Sau nầy biết được là trong thời chiến tranh, nhiều gia đ́nh ở lại trong đó có một gia đ́nh "bám trụ" đă giúp đem lên giùm! Ba má ḍ la hỏi thăm, th́ được biết, họ không xài mà đă bán rồi lấy tiền chi tiêu "giùm" từ lâu. Ba má tôi chẳng biết phải làm sao, đành tiu nghỉu lặng thinh như hồi thầy đội Việt Nam nói thằng quan Tây bảo cần th́ mua cái dĩa kiểu con cá khác xài vậy.

Sau cùng th́ ba c̣n một bộ ngựa gơ duy nhất đă mang ra Cần Thơ trong lần tản cư năm 1965 để ở Xóm Chài. Ba chở về quê cũ kê trong căn nhà nhỏ trên phần đất của ông bà ngoại cho năm xưa. Sau biến cố tháng tư đen 1975, hai người anh của tôi - một đi BCH 3 Tiếp Vận, một đi Quân Vận 412 và đứa em gái tôi có chồng đi lính quận Phong Phú cũng lục tục từ thành phố trở về quê nhà. Gia đ́nh hai người anh được ba má tôi chia cho cái nền nhà với mấy bờ vườn, công ruộng, xúm xít nhau cấy trồng mà sống. Đứa em gái th́ về quê chồng ở Rạch Nhum Ô Môn làm ruộng. Thằng em trai Út của tôi có vợ là gia đ́nh người Hoa ở chợ Cần Thơ, được chánh quyền cách mạng cho đi vùng kinh tế mới ở Ngă Tư Cây Dương sau khi bị đánh tư sản mại bản. C̣n tôi vào trại tập trung cải tạo đến sáu bảy năm trời. Tôi đă "tŕnh diện" tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ trong hai tháng, chuyển lên trung tâm huấn luyện Chi Lăng Châu Đốc để học 10 bài, làm tổng kiểm thảo xong sau đó đưa đi lao động ở trại Mê Linh Long Xuyên; lại trở về Chi Lăng học tiếp 8 bài nữa, tiếp tục cho đi lao động ở Nông trường Thắng Lợi tại Ngă Ba Ḷ Gạch Tri Tôn. Khi bọn Pôn Pốt tấn công rồi đốt phá làng Ba Chúc một thời gian, t́nh h́nh quá phức tạp, anh em cải tạo được chuyển hết lên trại Mỹ Phước Tây ở Vườn Đào Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mấy năm sau chế độ quân quản kết thúc nhiệm vụ để chuyển giao cho ngành công an quản lư trại giam. Thế là chúng tôi chánh thức được "hành quân" tới tận rừng sâu Xuyên Mộc, chính khu rừng nầy lúc chúng tôi được chuyển đến, trước đó đă chôn 81 người tù cải tạo, trong số có nhà văn Nguyễn Mạnh Côn mà thời chưa đi lính tôi đă biết tên trên báo chí .

Hồi c̣n ở Vườn Đào, ba lặn lội đi thăm tôi. Hôm đó ba đi với đứa em trai út của tôi, nhưng v́ thằng em bỏ vùng Kinh Tế Mới trở về tánh hơi ngang tàng, khi cán bộ kiểm soát giấy tờ gạn hỏi nó điều ǵ đó, nó bảo "không biết", cứ hai chữ "không biết" mà nói nên họ đành cho thằng nhỏ... đứng ngoài rào chơi suốt hai tiếng đồng hồ ba được vào gặp tôi. Năm đó ba tuổi cũng gần thất thập rồi, tóc muối nhiều hơn tiêu, con người gầy xuống trông thật đáng thương. Có lẽ ba đă thức quá nhiều đêm, trằn trọc lo lắng đủ điều. Tôi nói, "ba đừng lặn lội đi thăm con nữa. Một vài tháng, vợ con đi một lần gặp con cho biết tin tức gia đ́nh cũng được rồi, ba đi làm chi". Ba cứ chớp mắt nh́n tôi như muốn nói điều ǵ đó mà nghe chừng trong cuống họng ông nghẹn lại. Chợt nhiên, hai hàng nước mắt lăn xuống đôi g̣ má nhăn nheo của ba, tôi sững sờ. "Trong người ba thế nào? Ba có bị bệnh ǵ không?". "Nhớ con quá, ba cố gắng đi để gặp mặt con. Thằng Tâm đi theo ba, nhưng họ không cho nó vô. Con cố giữ ǵn sức khoẻ, ba biết con có nghị lực nên ba luôn luôn tin con sẽ vượt qua được. Ba bị bệnh... nhưng chắc không sao đâu. Con đừng lo cho ba...". Bàn thăm nuôi xếp dài trong lán trại, dăy bên nầy là tù cải tạo, dăy đối diện là thân nhân, ngồi đối mặt nhau nói chuyện qua lại như vậy. Mấy anh cải tạo viên làm trật tự th́ đi tới đi lui nhắc nhở sắp hết giờ thăm để chia tay, dành chỗ cho đợt khác vào. Các cán binh mang súng đi qua đi lại nghe ngóng ngầm "kiểm soát" không cho "phát biểu linh tinh" và thỉnh thoảng căn dặn "nói chuyện phải lớn tiếng, không được xầm x́"...

Khi đưa ba ra tới khu vực "cách ly" gần cổng trại, tôi nh́n ra hàng rào thấy thằng Út Tâm đứng ngoài đó, đưa tay vẫy vẫy, tôi ứa nước mắt rồi cũng vẫy tay lại với nó, vừa nh́n dáng ba đi liêu xiêu qua đoạn đường bị ngập của mùa nước nổi năm 1978 tại trại Vườn Đào Cai Lậy. Tôi mải miết nh́n dáng ba và thằng em phía ngoài cổng rào th́ một vệ binh hét lớn: "Anh kia, trở về đội, hết giờ thăm nuôi rồi! Muốn kỳ sau bị cúp không cho thăm hay sao?".

Chuyển ra trại Xuyên Mộc mỗi tháng cán bộ của trại thông báo cho viết thư về thăm nhà và báo ngày được thăm nuôi với dặn ḍ "qui định" số kí lô đồ được mang vào thăm. Nhiều tháng liên tiếp tôi đều dặn gia đ́nh đừng đi thăm nuôi v́ biết đường sá quá xa xôi, nhất là vào rừng sâu không tiện lợi chút nào. Qua năm thứ hai ở Xuyên Mộc, đột nhiên có một hôm cán bộ trực trại xuống gọi tôi đi gặp thân nhân không phải vào ngày trại tổ chức cho thăm. Tôi quá bất ngờ chẳng biết ai đến thăm ḿnh, nhưng cũng phải đi theo tên cán bộ. Bước vào khu thăm nuôi, tôi sửng sốt thấy người anh cả của tôi trước làm ở đại đội tổng hành dinh Bộ chỉ huy 3 Tiếp Vận căn cứ Long B́nh ngồi bên túi đồ, nh́n tôi mỉm cười. Cán bộ bảo tôi ngồi bên nầy, anh tôi ngồi bên kia rồi bảo anh mở túi đồ moi ra từng món để kiểm tại chỗ, xong đâu đó anh ta bảo bỏ trở vô, anh tôi đẩy gói đồ sang cho tôi khi cán bộ trực trại bước ra đứng ngoài cửa canh chừng. "Anh chị có khoẻ không? Mấy đứa nhỏ ra sao rồi? Ba Má sức khoẻ năm nay có tốt không? Hai năm trước khi đi thăm em, trông ba yếu lắm...". Tôi cứ hỏi dồn dập, mà anh tôi th́ cứ ngồi lắng nghe, muốn nói điều ǵ, nhưng đôi mắt cứ đảo qua lại sợ thằng cán bộ kia nghe. Anh nói lớn tiếng "Chị với các cháu của chú cũng khoẻ. Ba Má năm nay già rồi, nay đau mai ốm, nhưng chẳng sao đâu... Chú yên tâm đi, anh nghe lén đài BBC nói thành phần như chú chắc sẽ có nhiều thuận lợi... (mấy câu đó anh lại nói rất nhỏ). Ba bệnh sạn thận, bác sĩ ngoài bệnh viện khám và cho toa mua thuốc. Hiện ba đang uống thuốc... Ba nhớ chú muốn đi thăm nhưng đường sá xa xôi, má không cho đi. Ba bảo anh thay ba lên thăm chú để về kể lại cho ba nghe...". "Mấy năm nay về quê có làm ăn được ǵ đâu mà có tiền đi thăm em như vậy? Cả anh nữa, mười mấy năm lính, con đùm con đê, quen sống ở Sài G̣n, đùng một cái về vườn có ai quen đâu, rồi làm sao sống?". "Thời gian và thực tế tập cho tụi nó thói quen chớ biết sao chú". Ngừng một chút, anh tôi nói: "Nhiều đêm trằn trọc, ba đi đến quyết định là bảo anh kêu người bán bộ ngựa gơ sau cùng để đi thăm chú, anh không chịu, nhưng Má bảo, ba con muốn con bán để lấy tiền mua chút ít đồ lên thăm thằng V., con cứ làm theo, đừng để ba con buồn. Ổng đau nhiều lắm, ổng sợ ngày nó về không gặp được mặt ổng?". Nghe anh tôi nói, mắt tôi bỗng hoa đi bởi những ḍng nước mắt tự nhiên lăn dài xuống má. Vậy là một phần ba của món quà vô giá mà ba tôi nâng niu ǵn giữ suốt cả đời ḿnh, măi tới thời điểm nầy ông mới chịu buông xuôi, chịu để mất đi... chỉ v́ thằng con trai mà ông từng nói là "ba biết con có nghị lực" như tôi. Thời gian thăm nuôi không nhiều, anh em cũng chẳng dám nói ǵ bởi sợ tên cán bộ nghe ngóng. Anh tôi nói nhỏ: "Thằng Tâm vượt biên thất bại, đang bị giam ở trại Cái Nước Cà Mau". "Ba biết không?". "Không, gia đ́nh đang giấu, v́ bệnh ba trở nặng. Anh lo cho ba...". "Sao không để dành tiền lo thuốc men cho ba, đi lên đây làm chi cho tốn kém như vầy?, ở nhà ḿnh c̣n ǵ quư giá để bán có tiền nữa đâu?". "Không đi ba đâu có chịu. Ba nói bán hết gia sản để lo cho chú ba cũng vui ḷng...". Câu nói mà tôi nghe đó, có lẽ là câu nói được lặp lại sau cùng của ba đối với thằng con tù tội như tôi. Bởi v́, nh́n dáng anh tôi lủi thủi bước ra đường ṃn để đón xe rời khỏi trại Xuyên Mộc trong buổi xế chiều hôm đó, tôi có linh cảm là tôi đang mất tất cả những t́nh thương trân quư nhất của cuộc đời ḿnh.

Mấy tháng sau, tự nhiên có một đêm ngủ chập chờn, tôi chợt thấy ba. Lúc th́ ông đang lặn ngụp dưới ḷng rạch sâu để trải đăng, đặt từng chiếc lọp bắt cá. Lúc th́ tôi thấy ông đang cầm phảng phát cỏ trên cánh đồng ruộng nước lên tới ống quyển để chuẩn bị cho mùa cấy sắp tới. Lúc th́ tôi thấy ông đang cầm gàu tát nước trên mấy bờ vườn trồng quít đang hồi ra bông trắng xoá. Lúc th́ tôi thấy ba đang đi liêu xiêu từ chỗ thăm nuôi băng qua đoạn đường ngập nước tại trại giam Vườn Đào Cai Lậy mà ngoài kia hàng rào kẽm gai, thằng Út Tâm em tôi đang đứng vẫy tay... Lúc th́ tôi thấy ba đang lặn ṃ bộ ván ngựa gơ dưới chiếc mương vườn mà cách đó mấy năm ông đă giấu bên dưới... với vẻ mặt buồn bă tuyệt vọng. Lúc th́ tôi thấy ông hai tay cầm cái dĩa kiểu con cá thật to, với vẻ mặt tươi cười mừng rỡ... rồi đột nhiên ông buông tay rớt xuống đất bị bể nát, mặt ông tái đi, biến dần, biến dần trong màn sương trắng... Tôi giựt ḿnh khi anh bạn tù kế bên tḥ tay qua lay nhẹ tôi: "Làm ǵ mà ú ớ vậy". Tôi mở mắt định thần một chút rồi thở dài. "Nằm chiêm bao, thấy ba tôi, nhớ ông già quá chừng...".

Trong một lá thư gởi cho tôi báo tin tức gia đ́nh, bà con và cuộc sống ở quê nhà để tôi an tâm, vợ tôi có viết mấy chữ mà tôi cứ suy nghĩ măi: "Ba bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm ǵ, la lối ồn ào ba cũng ngồi nh́n mà lặng thinh, ba thương tụi con cháu lắm. Ba thương anh nhiều nhứt, ngồi đâu, nói chuyện với ai ba cũng nhắc anh, ba nói nhớ anh. Ba cứ kể, hồi trước anh có ư định hết chiến tranh anh sẽ học cái nghề đăng cá của ba, ba bảo, đừng học nghề nầy lạnh lẽo lắm, lo học chữ đi, làm thầy làm thợ với người ta, theo nghề hạ bạc nầy làm ǵ. Ba nói...". Tôi suy nghĩ hoài, vợ tôi viết "ba bây giờ ít nói" rồi tự dưng lại "ba cứ kể, ba nói, ba nói..." liên tục, phải chăng có điều ǵ xảy ra? Tháng đó viết thư gởi về, tôi chỉ hỏi thăm bệnh t́nh của ba tôi ra sao? Nhưng... câu hỏi về ba cũng không được vợ tôi hay bất cứ người thân nào trả lời.

Ngày tôi ra trại về tới quê nhà th́ đúng là ngày cả gia đ́nh anh em chúng tôi gom lại để cúng tuần 49 ngày cho ba. Nghe kể, ba tôi mất, chôn đúng một tuần th́ thằng Út Tâm được thả ra từ trại giam Cái Nước. Nó lập tức cùng hai anh và đứa em gái út của tôi lo xây cho ba tôi một cái mả xi măng đàng hoàng trước khi nó tiếp tục làm một chuyến vượt biên khác. Tôi về để quấn vành khăn tang và lạy ba tôi trong ngày cúng tuần đó, mới ngẫm nghĩ câu văn đơn giản của vợ tôi viết mà lúc c̣n trong trại tù tôi ngờ ngợ không nghĩ ra được: "Ba bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm ǵ, la lối ồn ào, ba cũng ngồi nh́n mà lặng thinh...". Và, tôi đột nhiên cúi mọp lạy ba tôi rất nhiều lạy, khi nhớ đến bộ ngựa gơ mà ba bảo anh tôi bán để lấy tiền đi thăm nuôi tôi, một thằng con ở tù mà những ngày cuối đời ông muốn đi thăm tận mặt cũng không thể nào đi được, bởi, ngày anh xách đồ đi thăm tôi, căn bệnh sạn thận và tiểu đường đă hoành hành ông đến cực độ, ông chỉ nằm một chỗ chờ đợi anh tôi đi Xuyên Mộc trở về, kể cho ông nghe những ǵ thấy được về tôi. "Ba ơi, xin ba tha lỗi cho con. Cả đời, con không bao giờ quên được tấm ḷng của ba dành cho con". Tôi đă quỳ lạy ba tôi với những câu chữ trên suốt mấy thời kinh mà thầy cúng đă đọc trong ngày cúng tuần thất thứ 7 sau ngày ba tôi vĩnh viễn từ giă cơi đời năm 71 tuổi.

Nỗi ân hận và dày ṿ trong ḷng tôi khi được nghe kể chuyện về ba những ngày sau cuối. Trước khi biết ḿnh không c̣n sống bao lâu, ba đă lục lạo tất cả hồ sơ giấy tờ, lấy ra những tấm ảnh mà ông đă chụp trước đây đốt hết. Má tôi hay được giựt lại nhưng không kịp. Ba nói, "chết là hết, để lại h́nh ảnh làm ǵ cho con cháu nh́n thấy mà nhớ thương, tôi nghiệp tụi nó. Nhất là thằng V. ở tù trở về chẳng gặp mặt tôi mà thấy tấm h́nh thờ chắc nó đau xót lắm, nằm sâu dưới ba tấc đất tôi cũng chẳng yên ḷng!".

Ba thật đơn giản, nghĩ sao là làm vậy. Ông đâu nghĩ rằng, không phải h́nh ảnh của ông từng cất giữ đem đốt hết th́ con cháu sẽ nhanh chóng quên đi. Cũng có thể suy nghĩ nầy đúng một góc độ nào đó, nhưng "ba của con ơi, không có h́nh ảnh nào của ba bị xoá mờ trong chính trái tim con đâu Ờ ít nhất cũng là trong thời gian con c̣n diễm phúc được hít thở không khí trên cơi dương trần nầy. Hôm nay khắp đất nước Hoa Kỳ có ngày kỷ niệm "father’s day", các báo và chương tŕnh phát thanh đều nhắc đi nhắc lại ư nghĩa "ngày của cha", nói về công ơn người cha và họ cố t́m một chữ nào đó để dịch cho đúng nghĩa: hiền phụ, nghiêm phụ như ngày "mother’s day" là ngày hiền mẫu...v.v...; nhưng dù dịch bất cứ chữ nào th́ h́nh ảnh người cha vẫn ngời sáng trong câu ca dao bất hủ "công cha như núi Thái Sơn"mà người Việt Nam nào thời thơ ấu đều có học. Chỉ c̣n hai tháng nữa là đến ngày cúng giỗ ba, con viết mấy ḍng nầy để kính dâng vong linh ba trong cơi vĩnh hằng. Con nhớ thuở ba c̣n sinh tiền và con c̣n đi học, vào mỗi khuya giao thừa hằng năm, ba đều hỏi "con đă viết khai bút đầu năm chưa?" Giao thừa năm Mậu Thân 1968 con đă đưa ba xem bài thơ Về Sông Ăn Cá mới viết xong. "Tết nầy ba có về quê cũ, Thăm mả mồ xưa viếng xóm làng. Hưu chiến đôi ngày ôi ngắn ngủi. Làm sao níu lại được thời gian? Ví dầu về rẫy ăn c̣ng sữa. Ăn cá về sông thương tuổi thơ. Ba hỡi điêu tàn vương xóm nội. T́m đâu đường nét đẹp bây giờ?". Con thấy ba đọc xong bài thơ dài 32 câu, mà tám câu cuối con viết như vậy, nét mặt ba buồn buồn rồi buông chuỗi thở dài".

 

L Ê C Ầ N T H Ơ

Houston, 15 tháng 6 năm 2003, Father’s day