Bên Bờ Tuyệt Vọng

 

                                                                                                      * Tâm Đoan

 

LTS. Chúng tôi vừa nhận được bài 'chia xẻ tâm tình' nầy của Cô Tâm Đoan, người từng đi dạy tại trường Phan Thanh Giản trong niên khoá 1972-1973. Xin chân thành cám ơn Cô Tâm Đoan. Đọc qua bài nầy khiến chúng tôi nghĩ tới một bài hát mang đầy triết lý Thiền của đạo Phật; bài hát đó mang tên là 'Tôi đi tìm tôi'! Khi tìm được cái tôi của mình rồi, khi biết mình là ai rồi, như một đoạn trong bài 'Vô Ngả' của Thầy Tịnh Từ 'Người ơi! Ta biết ta là ai: Ta không là gì, mà là tất cả... ta lưu chuyển khắp cùng mọi nơi!', thì lúc đó tâm ta tỉnh lặng, không còn vướn mắc, ưu phiền gì nữa bởi 'đời là vô thường' và 'tôi' là 'vô ngã', nghĩa là không có cái gì là của tôi cả! Bởi không có gì trường tồn mãi mãi trên thế gian nầy! Xin mời quý vị đọc bài 'Bên Bời Tuyệt Vọng' của Tâm Đoan dưới đây. LTP.

 

Cách đây khoảng hơn hai năm, một số chuyện lộn xộn xày ra trong sở có liên hệ dến việc làm và trách nhiệm của tôi. Với những phản ứng thẳng thắn và nóng nảy, tôi không ngờ đã làm một số người ghét bỏ, tìm cách trả đủa và chèn ép. Lúc ấy tôi vô cùng khổ sở, tâm hồn bất ổn, căng thẳng, rối rắm, tuyệt vọng. Lòng tự tin hầu như biến mất.Tôi luôn tự trách mình vì sợ thiên hạ chê bai, hiểu lầm.Tất cả đã ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống gia đình và khả năng làm việc của tôi. Tôi nghĩ tôi đã thành một con người tồi tệ!

Theo lời khuyên của vài người thân, tôi đi gặp cố vấn tâm lý với hy vọng họ giúp tôi gỡ rối những u uẩn, bồn chồn. Nhưng sau lần đó, tôi không trở lại nữa vì tôi thấy họ không thể giúp gì cho tôi cả. Những lời “gỡ rối tơ lòng” của họ không có gì lạ và có vẻ chung chung. Tôi muốn tự mình tìm lấy con đường đưa đến bình an trong tâm hồn trước khi phải nhờ đến bác sĩ chuyên môn và thuốc men trị liệu như trường hợp của mẹ tôi trước đây.

Mỗi lần nghĩ dến bà, tôi thấy buồn và chua xót. Bà qua đời hơn một năm nay trong viện dưỡng lão, nơi bà đã sống những năm tháng dài vô vị và hờ hững. Bà không còn nhớ, không còn biết gì nhiều. Chứng bệnh trầm cảm (depression) từ lâu đời và những phản ứng phụ của thuốc men chữa trị đã biến me tôi thành một bà lão không hồn, nằm bất động trên giường hay ngồi gục đầu lặng lẽ trên chiếc xe lăn đặt trước cứa phòng trong viện.

Cuộc đời mẹ tôi hầu như luôn luôn gắn liền với sự bất an, lo lắng và nghịch cành. Bà đã phấn đấu dến tột cùng để đưa gia đình vượt qua biết bao sóng gió, trở ngại nhưng bà đã thất bại với chính bà. Tôi nhớ ngay lúc con cái còn nhỏ, chứng đau bụng đã triền miên âm ỉ làm khổ bà, không thuốc nào chữa khỏi. Thuở ấy ở Việt Nam, mấy ai thấy đó như là dấu hiệu đáng ngại của một tâm hồn rời rã, muộn phiền? Tôi không muốn đi lại con đường tự hủy hoại như mẹ tôi, để cuối cùng thân tàn héo úa trong bệnh viện hay nhà dưỡng lão. 

Thế rồi một buổi sáng, thấy tôi phờ phạt sau một đêm không ngủ, chồng tôi khuyên tôi nên vào chùa gặp bạn bè trò chuyện cho khuây khỏa, tránh suy tưởng những chuyện không đâu. Ý đó làm tôi nhớ tới nhóm thiền trong chùa Phật Ân. Tôi nghĩ Thiền là  một cách giúp mình tịnh tâm, giải tỏa ưu phiền. Tôi liền gọi điện thoại cho chị Nga Nita Truitner nói rõ ý muốn. Chị đã sốt sắng đưa tôi lên lầu trên của chùa để hướng dẩn và ngồi thiền chung với tôi ngay hôm đó. Lối thiền của chị là Thiền Minh Sát, cách thiền căn bản và chinh yếu của Phật giáo nguyên thủy; mục đích tối hậu là loại trừ những vẩn đục trong lòng để có được sự bình an, tĩnh lặng.

Về nhà, tôi cố gắng ngồi thiền nhưng khó quá, vì tâm tôi còn vướng mắc, đứng ngồi không yên, lúc nào cũng thấy có một cái gì không ổn. Tôi cần phải tìm hiểu tận cội rễ tại sao mình có một trạng thái bất an như vậy? Hiểu được điều này chị Nga đưa cho tôi sảch nói về Đức Phật và Phật pháp nguyên thủy trong thư viện của chùa. Tôi còn nhớ đó là một quyển sách dày, được viết từ thời xa xưa.

Tôi như người đang cơn đói, không phải đói miếng ăn mà là đói đọc, bất cứ sách gì, để lục lọi, tìm hiểu tâm linh của mình. Chị Nga đã giúp tôi chọn đúng những gì tôi cần.”The purpose of studying Buddhism is not study Buddhism, but to study ourselves.” [Shunryu Suzuki “Zen Mind, Beginner’s mind”]. Đây là một trong những câu của các danh sư mà chị Nga gởi cho nhóm thiền của chị qua e-mail. Thật quả đúng như trường hợp của tôi.

Cũng có vài điểm trong sách tôi không hiểu lắm, nhưng nói chung, nó đã ảnh hưởng đến tôi nhiều. Lắm chỗ một lời Phật dạy cứ lập đi lập lại:” này hởi tỳ kheo, này hởi tỳ kheo, nầy hởi...”. Tôi vẫn đọc không chán. Nó như những tiếng vang, tiếp tục dội mạnh vào lòng tôi. Sau đó tôi đọc thêm một số sách và nghe băng giảng của vài thầy; nhờ vậy mà có dịp làm quen với mấy chữ: Vô thường (impermanence), Vô ngã (non self), Không(emptiness),  Nhân Duyên Sinh (the law of causality) cùng lòng tin tường tuyệt đối vào luật Nhân Quả Nghiệp Báo (the law of  cause and effect).

Nghĩ lại mà mắc cở, lúc trước tôi thường nói tôi theo đạo Phật mà thật ra tôi có hiểu gì về đạo đâu? Sách Phật cũng có trong nhà mà chẳng bao giờ đụng tới. Cái biết của tôi hiện nay vẫn còn kém cỏi, nông cạn. Tuy nhiên, nó đã giúp tôi tìm lại sự bình an trong tâm hồn. Tôi thấy rõ hơn rằng đời là vô thường, vạn vật kể cả bản thân và tâm thức của mỗi chúng ta cũng biến chuyển, thay đổi không ngừng. Câu thơ của Thiền sư Vạn Hạnh: “Cuộc đời như áng mây bay; trăm năm như cái nhướng mày đó thôi” bây giờ đọc lên tôi thấy nó có nhiều ý nghĩa hơn trước. 

Con người không ai thoát khỏi vòng “sinh lão bệnh tữ” cùng với những khổ đau về tâm lý như cô đơn, thất vọng, giận dữ…Rồi tấm thân vô ngã tạm bợ, đến rồi đi, cát bụi trở về với cát bụi. Trong vũ trụ này, không có gì mất mà cũng không có gì là vĩnh viễn. Cái nhân và duyên đã đưa đẩy sự hình thành của mọi điều, mọi vật. Còn duyên thì hợp, hết duyên thì tan, cũng giống như các đám mây trên trời xanh khi đến khi đi. Có mà không, không mà có.

Trong cuốn “Nghĩ Từ Trái Tim “, tác gỉả Đỗ Hồng Ngọc đã có lý khi viết, “Nỗi khổ của con người là do cái ngã của mỗi cá nhân lớn quá. Cái gì cũng của tôi, cho tôi…nên bám víu, lại luôn nghĩ rằng cái của tôi, vì tôi…đó là thường hằng, vĩnh viễn nên khi mất đi, tan biến đi thì khổ não sầu bi. Ngay cả những người tu hành muốn thoát ngã có thể lại nặng ngã hơn như ôm lấy chùa của ta, cốc của ta, sau khi tưởng đã thoát khỏi nhà của ta”.

Thật vậy, ngày vui qua mau, chuyện buồn theo thời gian rồi cũng phai.Tiếng khen chê, thị phi, đúng sai chỉ có giá trị tương đối. Biết bao nhiêu người và việc bị thế gian cho là có tội, là sai, rồi về sau xét lại cho là vô tội, là đúng và ngược lại. Hiểu thêm được tính cách vô thường, vô ngã của cuộc đời và duyên khởi đã giúp tôi có cái nhìn khoan nhượng hơn với người khác, bớt thành kiến, ích kỷ, hay bắt bẻ. Riêng bản thân, tôi ráng thất bại không nãn, thành công không kiêu hãnh; buồn vui, cảm xúc có chừng mực hơn xưa.

Hồi trước, hể mất cái gì về vật chất, cơ hội, tình cảm… là tôi buồn tiếc, đâm ra bực tức hay ân hận.Trong lòng không an, lúc nào cũng nghĩ lui về quá khứ; “giá mà” hay “nếu mà “ rồi tự trách mình hay trách người. Bây giờ, cũng tiếc đó nhưng rồi mọi sự trở nên nhẹ nhàng, chứ không còn trầm trọng như trước. Tôi giữ được tâm hồn bình thản bỡi vì tôi hiểu cuộc đời còn nhiều đổi thay. Tấm thân mình như bọt bèo, hơi đâu mà vướng bận với những gì đã xảy ra, không thể nào níu kéo hay thay đổi được.

Giai đoạn khủng hoảng vừa qua là một kinh nghiệm lớn cho tôi, là một dịp để tôi dừng lại, nhìn lại, suy xét lại con người mình và tìm cách chuyển hoá. Tôi cảm thấy tôi là người may mắn vô cùng. Cái đau khổ nội tâm hai năm về trước đã trở thành cái duyên đưa đẩy tôi tìm hiểu Đạo Phật, khởi đấu bằng  việc ngồi Thiền với chị Nga Truitner tại chùa Phật Ân.Và sau đó là sự hổ trợ tinh thần của biết bao thân quyến, bạn bè. Tôi không còn ngồi nghĩ vẩn vơ một mình. Gậm nhấm nỗi muộn phiền sẽ dễ khiến ta xa rời thực tế rồi nẩy sinh ra những điều hoang tưởng.

Qua bài viết này, tôi hy vọng sẽ giúp cho các bạn nào chưa có dịp đọc những gì liên quan đến Phật giáo thì hãy đến với giáo lý đạo Phật. Kinh nghiệm của tôi cho thấy đạo Phật đã giúp tôi “ tỉnh thức”, khôi phục lại niềm tin để sống  không với ưu phiền, bực bội. Quá khứ đã qua, tương lai chưa tới, vậy thì “chỉ có giờ phút hiện tại mới là sự sống, hạnh phúc trong hiện tại mới là đáng kể”. Mà để sống trong hiện tại chúng ta phải thở. Nhưng mấy ai biết dùng phép lạ của Sự Tỉnh Thức và Chánh Niệm đễ đạt được như bốn câu thơ sau đây của thầy Nhất Hạnh:

 

                        Thở vào, tâm tỉnh lặng                       

                        Thở ra, miệng mỉm cười

                        An trú trong hiện tại

                        Giờ phút đẹp tuyệt vời.

 

Theo tôi, Thiền là một việc rất cần thiết trong cách tu luyện, định tâm. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc trong quyển “ Nghĩ từ trái tim” viết về Tâm Kinh Bát Nhã đã nhắc đến Thiền như sau :“Thiền là để cho mình lắng đọng lại , không bị lôi cuốn vào trăm ngàn thứ chuyện lăng xăng, vọng động, không để cho cái tâm nhảy nhót như khỉ như ngựa (tâm viên ý mã)làm cho ta mất rất nhiều năng lượng, vất vả , lao đao. Có thể nói Thiền là thở. Chỉ cần nhớ cái chủ yếu là “thở bụng” đều, chậm , sâu, êm và luôn “nghĩ  về  hơi thở” của mình trong lúc thở là  được. Đừng gắng sức cũng đứng nóng vội.”

“Thở vào thì biết mình thở vào, thở ra thì biết mình đang thở ra, thở vào một hơi dài thì biết mình đang thở vào một hơi dài, thở ra một hơi ngắn thì biết mình đang thở ra một hơi ngắn”. Thật là giản dị nhưng lợi ích vô cùng. Về mặt sinh lý, thở mang dưỡng khí vào và thải thán khí ra khỏi cơ thể. Về mặt tâm lý, “vừa thở vừa quan sát sự thở, để ý đến hơi thở vào, ra, dài, ngắn ra sao…khiến ta quên suy nghĩ đến chuyện khác; nhờ đó mà đầu óc ta tỉnh lặng lại, thư giãn ra”.

Khi giận, hơi thở ta trở nên dồn dập, không kiểm soát được, làm ta mất khôn. Để tránh những phản ứng vội vàng “đổ dầu vào lửa”, bạn hãy tìm cách chú ý đến hơi thở của mình, thở sâu và dài, bạn sẽ thấy ngay hiệu quả của nó. Theo Bác sĩ “Người nào kiểm soát được hơi thở thì kiểm soát được tâm”. Ông còn viết “Nói ra có vẻ dễ nhưng thật ra không dễ dàng gì vì khi nổi giận ta có khuynh hướng bị cuốn hút vào cơn giận, quên thở hơn là tập trung vào hơi thở…để dằn cơn giận.”

Còn tư thế thiền, ngoài thế ngồi kiết già (tư thế yoga) có từ ngàn năm trước khi Phật ra đời, thầy Nhất Hạnh trong sách “Phép lạ của sự tỉnh thức” đề nghị “ mỗi ngày ngồi một giờ đồng hồ thì tốt lắm nhưng không đủ thiếu gì. Phải tập thiền trong khi đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc”, có nghĩa là: “làm gì cũng làm trong chánh niệm, hãy sống với giờ phút hiện tại, hãy tìm được sự an lạc trong khi làm những việc đó, đừng mong cho chóng xong”.

 Khi tôi bắt đầu tập Thiền mà phần lớn là Thiền Hành, tâm hồn đang khổ sở , bấn loạn, việc định tâm vào hơi thở không phải dễ. Do đó, hầu như tôi dành hết thì giờ Thiền cho việc này và đều đặn mỗi ngày. Rồi Thiền “đi”trở thành thói quen, không “đi” thì “nhớ”. Tôi biết bạn sẽ cười lối thiền kỳ cục này, nhưng không sao, miễn là nó giúp tâm hồn tôi lắng dịu và tỉnh thức. Có thể ví Tâm đã định như một cái ao đã lắng bùn, mặt nước phẵng lặng, trong veo; đó chính là Tâm thật của ta, cái Tâm không vọng động, sân si, tưởng tượng viển vông…Nhờ thế, ta có thể nhìn xuyên qua nó để quan sát tất cả những gì chất chứa dưới đáy; rồi ta sẽ nhận diện nó, tìm hiểu nó.

Những buổi chiều đi bộ sau giờ làm việc, tôi cố gắng tập trung vào hơi thở “thở vào tôi biết tôi thở vào, thở ra tôi biềt tôi thở ra”. Sau khi tâm đã tịnh và thư giãn, với Chánh Niệm ( Right mindfulness), tôi nhớ nghĩ về một điều gì,  tức là “Quán” trong Đạo Phật. Việc này quan trọng hơn là chúng ta tưởng. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã phân tích như sau: “Trong lúc Thiền, nghĩ tới điều lành, điều thiện thì rõ ràng hơi thở sẽ điều hòa, tâm hồn sẽ thư thái; nghĩ về điều xấu, điều ác thì lập tức hơi thở hằn học, hổn hển, tim đập nhanh, mạch máu co thắt lại, huyết áp tăng lên..Tâm lý ảnh hưởng sinh lý một cách rõ rệt.”

Tôi có đọc đâu đó lời kinh Phật: “Sự phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng”. Vâng, chưa gì hết mà mình đã buông xuôi, bỏ cuộc, đầu hàng. Sự tuyệt vọng sẽ xô ta xuống vực thẳm, sẽ khiến ta có những quyết định và hành động nông nổi, có thể hủy hoại tất cả và làm khổ lây những người thân. Theo tôi, muốn tránh ngã gục, hãy tìm hiểu triết lý Đạo Phật, một triết lý sâu xa về sự sống; đó là con đường tốt nhất để tìm hiểu chính mình, nhằm giải tõa mọi phiền muộn, khổ đau. Tôi tự nhũ: chiến thắng với chính mình mới là chiến thắng quan trọng và khó khăn vì như lời Phật:” Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình”.

 

Tâm Đoan 

Minnesota, 01/2007

 

 Sách tham khảo:

Nghĩ từ trái tim- Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Phép lạ của sự Tỉnh thức- Thích Nhất Hạnh

An lạc từng bước chân- Thích Nhất Hạnh

Đức Phật và Phật Pháp- Cố Hòa Thượng Narada.