Ba tôi thời thơ ấu

Bài viết nầy xin được kính dâng tặng Ba tôi, một người cha hiền lành, tận tuỵ suốt đời v́ con, mới từ trần gần một năm nay ở tuổi 87 tại Hawaii, Hoa Kỳ.

Ba Tôi lúc 80 tuổi

Lâu nay người ta thường nhắc nhở, đề cao, tôn quí công lao của người mẹ, và đó là một điều hiển nhiên, ai cũng biết, nhưng mức độ báo đáp, hay trân quư đối với mẹ th́ mỗi người mỗi khác. Ở đây tôi không muốn luận bàn thêm, không muốn viết thêm ǵ về Mẹ, mà lại muốn nói về Cha, bởi v́ trong lịch sử thơ văn, h́nh như giai thoại về người Cha vẫn c̣n quá hiếm.

Dù sao, khi nói về ḷng hiếu thảo, người ta cũng thường nhắc ‘công cha như núi thái sơn’, và cách đây không lâu, chắc chừng năm ba năm, trong làng văn nghệ chúng ta có nghe bài hát ‘T́nh Cha’ nghe cũng rất thắm thía không kém bài "Ḷng Mẹ" bao nhiêu!

Khi tôi nghĩ ra cái tựa đề “Ba tôi thời thơ ấu”, không nhất thiết là muốn kể về Ba tôi lúc người c̣n trai trẻ, v́ thực ra tôi làm sao biết được ǵ nhiều về Ba tôi khi c̣n thơ ấu để mà viết! Như vậy nội dung bài nầy là muốn ghi lại những kỷ niệm đẹp của Ba tôi và chính tôi ở cái thời c̣n thơ ấu th́ đúng hơn!

"Thời thơ ấu" tự nó đă nghe rất hồn nhiên mà ai cũng trải qua trong đời. Có lẽ trí nhớ của mỗi người một khác về những kỷ niệm thời thơ ấu của ḿnh. Riêng tôi th́ tôi có thể nhớ những h́nh ảnh thời thơ ấu xa xưa nhất trong đời ḿnh vào khoảng lên bốn, lên năm.

Khi đó, tôi nhớ là trong nhà mới có hai anh em, tức là tôi và anh tôi. Nhà tôi hồi đó ở bên bờ sông kinh xáng, thuộc ấp Thạnh Lợi B, xă Long Thạnh, Huyện Phụng Hiệp bây giờ. Có lẽ con sông nầy được đào bằng chiếc xáng cạp từ thời Pháp, nên người ta quen gọi nó là kinh xáng. Con sông trước nhà tôi chảy xuyên qua cầu Trắng lớn đến miệt Bảy Thưa, luồn thấu qua tới Cả Chanh, Cả Muồng; c̣n hướng ngược lại th́ vô Xẻo Môn, ngă tư hủ tiếu, nhà máy cháy v.v. Nhắc tới những địa danh nầy khiến ḷng tôi nao nao, nhớ lại nhiều h́nh ảnh và kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu mà giờ đây chỉ c̣n lại lờ mờ trong kư ức của ḿnh mà thôi. Ngày nay muốn về thăm quê củ, tôi đi xe đ̣ từ Cần Thơ hướng xuống Phụng Hiệp, ghé lại Cầu Trắng rồi đi đ̣ theo sông Kinh Xáng qua khỏi Cả Sóc chừng một cây số. Kể như vậy cũng là để cho người đọc có thể mường tượng được ‘quê hương tôi thời thơ ấu’, biết đâu sau nầy các con tôi có đứa muốn t́m ‘về nguồn’ sẽ biết được ở đây, trên mănh đất quê hương yêu dấu, nơi tôi ra đời và lớn lên c̣n chôn giấu biết bao kỷ niệm êm đềm nhưng không bao giờ t́m lại được. Cho dù ngày nay tôi có trở về nơi chôn nhao cắt rốn của ḿnh, vẫn không thể t́m lại được những h́nh bóng thân thương của Ba tôi nơi đó, v́ Ba tôi đang ở trong tôi những khi vắng vẻ âm thầm tưởng nhớ về Ba!

H́nh chụp Ba tôi tại Hawaii ngày 24/9/01

Ba tôi là một nông dân chất phác, quanh năm gần gủi với với ruộng đồng. H́nh ảnh quen thuộc và rơ nét nhất của Ba tôi là một người đàn ông trong bộ đồ đóng nước phèn, sáng sớm ra đồng, trên vai vác một cái phảng, một cái cù nèo máng lủng lẳng qua cùi chỏ và kèm thêm một b́nh nước và một nồi cơm đă nấu sẵn. Tôi nghĩ thời nay, nhất là dân ở thành phố, ít ai biết hết tên các vật dụng của nhà nông thời đó. V́ vậy tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để giải thích thêm hai món đồ nghề nhà nông của Ba tôi mà tôi vừa đề cập. Cái phảng có thể nói là một thứ dao lớn có h́nh dáng chữ L mà các nhà nông thời xưa của ta dùng để cắt cỏ ngoài đồng ruộng. Phần ngắn của cái phảng h́nh L là cái cáng tra bằng cây tṛn, c̣n phần dài kia chính là cái lưởi bén phía mép trái nếu nh́n vào h́nh chữ L. Chính cái lưởi bén nầy giúp cho các nhà nông cắt cỏ ngang mặt đất trên các cánh đồng trong tiến tŕnh trồng lúa ở thôn quê. C̣n cái cù nèo th́ h́nh dạng như một lưởi câu lớn, có cáng gỗ một đầu, dùng để móc cỏ trong lúc dùng phảng một tay để “phác” cỏ ngoài đồng. Động từ “phác” rất thông dụng ở thôn quê Việt Nam có nghĩa là cắt cỏ bằng cây phảng ngang bằng mặt đất. H́nh ảnh một người cầm phảng phác cỏ rất khó h́nh dung đối với thế hệ trẻ ngày nay, nhất là những người ở thành thị. Ngày xưa, ở thôn quê Việt Nam, việc dùng phảng để phác cỏ ngoài đồng rất thông dụng. Thông thường mỗi người có thể phác hết một công cỏ từ sáng sớm tới xế chiều. Phác cỏ ngoài đồng như vậy là một trong những công việc rất quen thuộc của Ba tôi thời đó.

Niềm vui trong cuộc sống của Ba tôi chỉ là công việc ngoài đồng, và sinh hoạt truyện tṛ với vợ con. Ba tôi ít đi đây đi đó hay giao thiệp với xóm riềng; v́ bản tính cá nhân và chắc cũng v́ không có th́ giờ rănh. Nguồn lợi cho cuộc sống gia đ́nh chính là Ba tôi; từ các công việc đồng áng, tới việc trồng rẩy, bắt cá, bắt tôm. Mỗi buổi chiều về từ ngoài ruộng, Ba tôi thường mang trên tay lủng lẳng một xâu cá, lươn hay rùa mà người lượm bắt được trong lúc phác cỏ ngoài đồng. Như vậy, Ba tôi vừa đi làm vừa "đi chợ” để có món ăn vào buổi chiều cho cả nhà. Những khi không nhằm mùa phác cỏ, th́ Ba tôi giăng câu, giăng lưới ngoài đồng để bắt cá đem về, có khi thật nhiều, nhà ăn không hết c̣n bán lại cho hàng xóm để đổi lấy chút tiền tiêu xài lặt vặt. Công việc bán buôn nầy thật ra là phần của Má tôi. Ba tôi chỉ thường làm các công việc ‘sản xuất’ ở ruộng đồng, vườn tược; c̣n Má tôi th́ thường đóng vai tṛ ‘ngoại giao’ hay buôn bán.

Khi trái mùa bắt cá ở ruộng đồng th́ Ba cũng có cách bắt cá bắt tôm ở dưới sông bằng cách chất chà. Lại thêm một từ ngữ mới đối với thế hệ trẻ thành phố ngày nay; đó là ‘chất chà’. Chà ở đây chính là các cành cây đốn để nguyên nhánh rồi cấm chụm lại một khu vực nào đó ở mé sông, ra khơi cách bờ chừng bốn, năm thước. Một thời gian sau từ 3 tới 6 tháng, có khi cả năm, khi ḍ thấy có dấu hiệu cá tôm tụ tập sinh sống trong đống chà th́ người chủ mới bao vây bằng lưới hay bằng đăng trước khi dọn sạch các cây chà lên bờ để kéo lưới hay đăng gom lại mà bắt cá. Cũng lại danh tù mới "đăng” ! Đăng là một loại mành kết bằng những cọng tre vót tṛn đường kính chừng 8 ly, chiều dài chừng 4 thước để bao bắt cá dưới sông.

Cha con trùng phùng

Tới mùa tháng giêng, tức là mùa cắt lúa, khi ngoài đồng đă khô ráo, th́ công việc thường xuyên của Ba tôi là đi cắt lúa ngoài đồng. Cắt lúa nhà và cắt lúa vầng công cho người khác. Ở thôn quê Việt Nam ngày xưa ‘làm vầng công" là một sinh hoạt rất phổ thông nhằm tương trợ lẫn nhau giữa các nhà nông. Một số người hàng xóm xúm lại làm công việc cho một người, rồi khi công việc của người nầy đă xong th́ mọi người lại cùng nhau đi làm việc cho người khác; và cứ thế xoay ṿng, làm hết việc người nầy tới việc của người khác gọi là làm ‘vầng công". Mùa nước th́ làm theo công việc mùa nước, c̣n mùa khô th́ làm theo công việc của mùa khô. Sinh hoạt tương thân liên kết như thế lâu ngày khiến cho t́nh cḥm xóm, láng giềng càng trở nên gắn bó, thân mật hơn.

Mùa khô ở nông thôn Việt Nam, tức là vào khoảng tháng giêng, tháng hai âm lịch, là mùa vui nhất của người nông dân. Có lẽ nhờ hoàn cảnh thiên nhiên khô ráo nên sự đi lại tiện lợi hơn, và các sinh hoạt của người dân có thể nới rộng ra ngoài đồng. Sinh hoạt tập thể đặc biệt nhất của người dân nông thôn Việt Nam là đá banh, hay bóng đá cũng vậy. Tôi không biết rơ lúc đó tôi được bao nhiêu tuổi, nhưng mỗi lần Ba tôi tham gia các trận đấu bóng đá đều có tôi đi theo. Nhiệm vụ chính của tôi là giúp phân phối nước uống cho các cầu thủ. Nước uống th́ phải mang từ nhà, cách sân banh có khi vài ba cây số. Dĩ nhiên những người lớn phải làm nhiệm vụ xách nước, v́ lúc đó có lẽ tôi chưa đủ sức để làm việc nầy. Tôi nhớ nước uống cho các cầu thủ được pha với chanh tươi, mà tôi là người có nhiệm vụ mút nước chanh từ cái thùng lớn đổ ra các ly nhỏ cho mọi người tới uống.

Ba tôi vóc người không cao lắm, nhưng rất dẻo dai trong vai tṛ cầu thủ ‘tiền phong". C̣n cậu Năm tôi th́ cao lớn nên thường đóng vai “hậu vệ”. Tôi nhớ sinh hoạt túc cầu vào mùa khô là một thứ giải trí mà Ba tôi đam mê duy nhất. Sau những trận đấu “thư hùng", Ba tôi thường ôm về trái banh bị rách nứt đường chỉ để tối lại ngồi khâu vá cho kịp ôm ra sân chơi vào buổi chiều ngày hôm sau. Mỗi lần Ba tôi làm như vậy th́ có tôi ngồi bên cạnh, hỏi chuyện nầy chuyện kia với Ba tôi.

Khi tôi lớn lên thêm, th́ bắt đầu đi học ở cái trường lợp lá cách nhà chừng vài trăm thước. Đó là trường học đầu tiên của tôi. Trường chỉ có một pḥng duy nhất, bốn bên không có vách. Tôi bắt đầu học lớp “i tờ” tại đây, và cứ thế mỗi năm tôi đều theo học, không biết ḿnh đang học cấp lớp nào, và cũng không nhớ rơ là ḿnh đă đi học như vậy được mấy năm tại đây. Mỗi học tṛ đóng học phí bằng lúa chớ không phải bằng tiền. Mỗi năm học Ba Má tôi đóng cho Thầy mấy giạ lúa tôi không biết rơ.

Khi tôi lớn lên thêm một chút nữa, có lẽ chừng 8.9 tuổi, th́ Ba Má tôi bắt đầu làm nghề buôn bán tạp hoá trên sông bằng một chiếc ghe hàng nhỏ, mui lá. Hàng ngày Ba Má tôi thường xuống ghe hàng chèo đi bán dạo trên sông. Ba tôi chèo ghe, Má tôi ở trong mui bán đồ khi có người kêu ghé để mua đồ. Ba tôi vừa chèo ghe vừa bóp kèn, một cây kèn được nối liền với một cái bầu dục bằng cao su. Khi bóp cái bầu cao su nầy th́ không khí bên trong bị dồn ép chạy qua cây kèn tạo thành tiếng ‘tí ton’. Người trên bờ khi nghe tiếng kèn như vậy là biết của ghe hàng bán đồ tạp hoá. Hàng ngày Ba Má tôi xuống ghe buôn bán ghe trên sông như vậy, có khi tới tối mới về tới nhà. Hai anh em tôi lúc đó chắc khoảng chừng 8,9 tuổi. Có lần, ở nhà một ḿnh, anh em tôi rủ nhau ra đồng đốn sậy về làm đồ chơi. Khi ôm mấy cây sậy dài lướt thướt về ném xuống trước sân, anh hai tôi dùng con dao cầm sẵn trên tay chặt những cây sậy đang nằm ngổn ngang trên mặt đất. Không ngờ một trong những nhát dao vô t́nh ấy đă trúng phập vào ngón chân út của tôi đau điếng và làm tôi mất đi một phần ngón chân nầy cho tới ngày nay! Anh Hai tôi luưnh quưnh đi bứt mấy chùm cỏ ǵ đó, ḍ nát rồi đắp vào ngón chân bị đứt của tôi để cầm máu. Vậy mà chỉ cần mấy phút sau là máu đă ngừng chảy! Mặt mày anh Hai xanh mét có vẻ rất âu lo, v́ hối hận đă làm tôi bị thương, và chắc cũng v́ sợ bị đ̣n khi Ba Má tôi về! Kể từ buổi chiều hôm đó, tôi bắt anh tôi cổng trên vai mỗi khi tôi cần đi đâu. Anh hai tôi rất thương tôi và sẵn sàng cổng tôi đi đây đi đó, chắc cũng v́ để ‘chuộc tội’! Tôi không giận anh tôi, chắc v́ biết chuyện gây thương tích cho tôi chỉ là một tai nạn, chớ không phải anh tôi cố ư làm.

Gặp lại Ba tôi sau mấy năm xa cách tại Hawaii ngày 24/9/01.

H́nh từ sang phải: tôi, Ba tôi, Nhàn, vợ tôi, Dượng Năm, D́ Út.

Cảnh sống như vậy kéo dài mấy năm, hai anh em chúng tôi dần dần cũng làm quen được với các sinh hoạt tự túc hàng ngày. Sau khi tan học về chúng tôi ra đồng thăm lưới, dở lờ để bắt cá đem về nấu ăn. Ban đêm th́ chúng tôi cũng ra đồng thăm bẩy bắt chuộc. Mỗi đêm đi thăm bẩy một lần, và hừng sáng th́ thăm một lần nữa. Chúng tôi bắt được rất nhiều chuộc, ăn thịt không hết, có khi đem bán cho hàng xóm. Càng ngày Ba Má tôi càng bận rộn hơn trong việc buôn bán, và sau nầy tôi được biết Ba Má tôi chèo ghe hàng xuống tới chợ Phụng Hiệp để bổ hàng.

Khi anh Hai tôi lớn thêm lên, Ba Má tôi quyết định cho anh đi “du học” khỏi làng ở trường xa nhà, v́ nếu không th́ phải tiếp tục dặm chân tại chỗ ở cái trường làng nầy th́ không biết chừng nào mới tiến bộ hơn! Anh Hai tôi ban đầu ra ở nhà Bác Ba tôi ở quốc lộ 4, Xẻo Vong để đi học. Rồi có lúc anh Hai tôi được đi ‘du học’ tới miệt Cả Muồng, là gốc gác bên ngoại tôi. Trong thời gian anh Hai tôi đi “du học” như vậy th́ ở nhà tôi phải sống cô đơn. Tôi không nhớ t́nh trạng cô đơn như vậy kéo dài bao lâu, nhưng tôi nhớ có những đêm tôi ra đồng một ḿnh để thăm câu và thăm bẩy chuộc. Tôi không biết chắc lúc đó được bao nhiêu tuổi, nhưng nhất định không quá tuổi 12, bởi v́ lúc gia đ́nh tôi di chuyển về cư ngụ tại Xóm Cao Đài, Phụng Hiệp, th́ tôi mới được chừng 12 tuổi.

Tôi cũng không biết chắc gia đ́nh tôi dọn về Phụng Hiệp là vào năm nào, nhưng chắc là phải trước năm 1954, bởi v́ tôi c̣n nhớ rất rơ ngày kư kết Hiệp định Geneve năm 1954, tôi đang đi học lớp nh́ tại trường tiểu học Phụng Hiệp. T́nh cờ tôi có dịp chứng kiến cảnh hai bên quân đội chào nhau tại đầu cầu Phụng Hiệp. Từ xa, chúng tôi thấy một chiếc tàu đ̣ chở đầy lính, từ từ cặp bến tại đầu cầu Phụng Hiệp. Một toán quân mặc đồng phục màu cứt ngựa, đội nón cối, đeo băng tay màu đỏ, từng tự bước lên bờ rồi tiến dần ra hướng lộ cái, xếp hàng đối diện với một hàng binh quốc gia đứng chờ sẵn, rồi hai bên hô hiệu lệnh bắt súng chào nhau một cách hết sức oai nghi và trịnh trọng, trước khi nhập lại từng cập đi đến các vị trí canh gác. Kể từ đó tại mỗi địa điểm canh gác đều có hai người lính, một bên quốc gia c̣n một bên là cộng sản đeo băng tay màu đỏ.

Sau nầy tôi được biết cũng nhờ Ba Má tôi làm nghê buôn bán ghe hàng nên mới quen biết Phụng Hiệp, để sau đó mua lại cơ sở nấu rượu tại Xóm Cao Đài, và cũng nhờ đó mà tôi mới có cơ hội đi học ở trường quận Phụng Hiệp, để tiến thân trên đường học vấn về sau.

Khi về sinh sống ở Xóm Cao Đài Phụng Hiệp, Ba tôi làm nghề nấu rượu sau khi mua lại một cơ sở, kể cả nhà và đất tại đây. Công việc làm của Ba tôi càng ngày càng được nhiều người biết đến, và v́ thế mà sau nầy Ba tôi mới có cái biệt danh là "Ông Hai Ḷ Rượu"! Riêng tôi, khi về Phụng Hiệp th́ tuổi đă hơi lớn so với tŕnh độ học, nên phải làm giấy khai sanh lại, sụt đi 3 tuổi mới được vô học lớp nh́. Tôi học tại trường Phụng Hiệp được hai năm: năm đầu học lớp nh́ với Thầy Huyết, rồi sau học lớp nhất A với Thầy Nguyễn Thành Long. Năm đó trường tiểu học Phụng Hiệp có hai lớp nhất, với tổng số học sinh là 100. Cuối năm 1957, tôi ghi tên dự thi lên trung học cùng với học tṛ của hàng trăm trường tiểu học trong toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long thời bấy giờ. Tôi được may mắn trúng tuyển trong kỳ thi nầy cùng với một học sinh khác của trường tiểu học Phụng Hiệp, đó là Vơ Thị Hai. Măi sau nầy tôi mới biết Vơ Thị Hai có thời gian trở về dạy tại Phụng Hiệp, kết hôn với Thầy Giáo Tám, có ba đứa con, rồi qua đời.

Tôi nhớ khi lên Cần Thơ để dự thi vào đệ thất, đa số trong đám học tṛ Phụng Hiệp đều ở trọ nhà cô giáo Liễu, tức là vợ của Thầy Long, ở đầu đường Phan Thanh Giản.

Khi nhận được tin kết quả đậu vào đệ thất trường Phan Thanh Giản, tôi cảm thấy cuộc đời ḿnh có sự thay đổi lớn, v́ thời đó tôi biết rằng nếu không đậu vào Phan Thanh Giản th́ con đường học vấn đối với tôi cũng như đa số những học tṛ lớp nhất như tôi đều bị coi như là kết thúc, bởi v́ không c̣n cách nào để tiếp tục học, ngoại trừ con nhà khá giả đủ tiền đóng học phí để theo học trường tư. Tin tôi thi đậu vào trường Phan Thanh Giản gần như cả làng, cả quận điều biết. Nhất định Ba Má tôi lấy làm hănh diện vô cùng. Tôi c̣n nhớ rơ nét mặt tươi cười của Ba tôi khi hay tin tôi thi đậu. Người rất hài ḷng và hănh diện với sự thành công của tôi. Phần thưởng cho tôi là nụ cười hiền hoà của Ba tôi, là nét mặt hân hoan của Ba tôi, và chỉ có thế tôi cũng đă thấy ấm ḷng rồi.

Năm đó, trường Phan Thanh Giản tuyển 300 học sinh từ các trường tiểu học trong khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long để vào học lớp đệ thất. Số học sinh nầy được chia ra thành 6 lớp: đệ thất A, B, C, D, E, F. Ba lớp đầu theo ban Pháp Văn, và ba lớp sau theo ban Anh Văn. Tôi học lớp đệ thất E, ngồi chung bàn đầu với Trần Nam Ṭng, Lê Nguyễn Thiện Ngôn, và Diệp Thiện Mỹ. Trong lớp tôi có tất cả 50 học sinh, dĩ nhiên là tôi không thể nhớ hết tên mọi người.

H́nh từ trái sang phải: Ba tôi, anh Hai tôi, vợ tôi và tôi

Trong thời gian tôi đi học tại trường Phan Thanh Giản trong cảnh sống của một học tṛ nghèo. Tôi ở trọ đi học với một vài người bạn ở hẻm Tài Xỉu.  Hàng ngày phải tự nấu ăn; món ăn thường là cải luộc chắm nước mắm. Ban đêm ngồi học dưới ngọn đèn dầu leo lét. Thỉnh thoảng mấy anh em bạn học trong nhà rủ nhau ra ngoài đường Lư Thái Tổ ngồi học bài dưới cột đèn đường. Có khi lại rủ nhau thả bộ xuống tới đường Hoà B́nh mua bắp, mua xôi ăn dặm ban đêm. Lại có khi kéo nhau xuống bến Ninh Kiều hóng mát một chút rồi trở về. Cảnh sống của một học tṛ nghèo của tôi có rất nhiều kỷ niệm vui buồn, nhưng xin được không viết ra đây, để dành chỗ viết về những kỷ niệm với Ba tôi.

Vào mỗi cuối tuần tôi đều về Phụng Hiệp để giúp Ba tôi một phần nào. Tôi thường chèo ghe đi chở trấu đem về cho Ba tôi đốt ḷ nấu rượu từ nhà máy xay lúa ở bên voi ngă bảy. Một ḿnh chèo chiếc ghe vượt qua sông ngă bảy thật vô cùng khó khăn, phần nước chảy xiết, có khi gió to, sóng lớn, phần ghe tàu qua lại tấp nập. Có lần, trong lúc tôi chèo chiếc ghe chở đầy trấu th́ bổng dưng gió thổi mạnh làm lật ch́m chiếc ghe. Một ḿnh tôi lênh đênh vất vả lắm mới bơi được vào bờ.

Trong một kỳ nghỉ hè, tôi cùng đi với Ba xuống tới rừng U Minh, thuộc mũi Cà Mau trên một chiếc ghe bề dài chừng 10 thước, để đốn cây về cất nhà. Chuyến đi kéo dài gần cả tháng, kể cả thời gian ở lại rừng đốn cây. Từ Phụng Hiệp đi rồng rả suốt mấy đêm ngày mới tới rừng Cà Mau. Trên đường đi qua nhiều chợ “vườn” như Nhà Ḷng, Ngă Năm, Cái Sơn v.v. Có những đêm xuôi nước cha con chúng tôi thức tới quá nữa đêm để chèo ghe. Ba tôi chèo lái, c̣n tôi th́ chèo mũi. Thỉnh thoảng Ba tôi cất tiếng ḥ, ngâm nga những bài thơ cổ để khỏi buồn ngủ.

Một kỷ niệm khó quên trong chuyến đi chở cây ở rừng U Minh với Ba tôi là chuyện bắt cá. Trong lúc đậu ghe trong rừng U Minh để chờ đốn đủ cây chở về, tôi bắt được rất nhiều cá bằng một đường câu quăng. Câu quăng, tức là quăng hay ném một đầu đường dây câu ra sông, trong lúc đầu c̣n lại th́ cột chặt vào ghe. Đường câu có 20 lưởi, cứ mỗi lần kéo câu lên là đă có tới 18, 19 con cá mắc câu! Hầu hết là cá ngác, một loại cá có h́nh dạng giống như cá trê trắng, nhưng thân h́nh ốm và dẹp hơn. Có lần v́ mê cá nên bất cẩn, tôi bị cá ngác đâm vào ngón tay cái đau điếng kéo dài cả tuần lễ, mà ngày nay tôi vẫn c̣n mang thẹo. Trên chuyến đi nầy Ba tôi kể cho tôi nghe nhiều chuyện cổ tích, và những chuyện về đời tư của Ba tôi lúc c̣n nhỏ. Ba tôi cho biết cha mẹ mất sớm nên chỉ c̣n có hai anh em mồ côi, sống nhờ với bà con ở Hộ Bối (gần Cả Muồng). Lúc đó Ba tôi chừng 6,7 tuổi c̣n Bác Ba tôi th́ lớn hơn vài tuổi. Hai anh em Ba tôi làm công việc giữ trâu để đổi lấy miếng ăn hàng ngày. Có lần ham chơi sao đó, nên để trâu ăn lúa người ta, Bác Ba và Ba tôi phải bị một trận đ̣n nhừ tử. Ba tôi tức giận, buồn chán quá nên đi vào bụi rậm lủi vào một ổ ong nuồi dẻ để “tự tử”! Cũng may sau đó Ba tôi được người hàng xóm phát hiện và cứu sống.

Khi lớn lên, Ba tôi trở thành một thanh niên chịu khó và siêng năng có tiếng trong vùng Hộ Bối, Cả Muồng, nên được bà ngoại tôi thương và có ư muốn chọn làm rể. Thế là Ba tôi bắt đầu có nơi nương tựa. Tuy nhiên sự nương tựa, gọi là "ở rễ" của Ba tôi thật vô cùng gian nan. Ba tôi "ở rễ" nhà bà ngoại tôi trong suốt ba năm liền. Nói tiếng “ở rễ” nhà bà ngoại, nhưng thật ra Ba tôi ở một ḿnh trong một căn cḥi xa xôi trên đồng để làm ruộng cho bà ngoại tôi. Má tôi, lúc đó chưa chính thức làm vợ Ba tôi, thỉnh thoảng có đem cơm tới cḥi cho Ba tôi ăn. Tuy nhiên, không phải như trai gái thời nay, Ba kể lại, mỗi lần thấy bóng dáng má tôi đến từ xa, Ba tôi rất mừng, nhưng khi vừa tới cḥi, đặt thúng cơm xuống là má tôi đă vội vàng quay gót ra đi. Sau nầy mới biết là má tôi sợ ở lại lâu với Ba tôi th́ sẽ bị đ̣n khi ngoại tôi biết được! V́ vậy mà Ba tôi không hề trách má tôi mà vẫn tiếp tục "ở rễ" cho đến khi được chính thức kết hôn với má tôi.

Hôm nay gần tṛn một năm sau ngày Ba tôi mất. Tôi ghi lại đây những h́nh ảnh và kỷ niệm đẹp với Ba tôi để tưởng nhớ đến một người cha hiền lành, lam lủ suốt đời v́ con. Niềm vui của Người chính là niềm vui của con cái. Mỗi lần về cuối tuần hay trong dịp nghỉ hè, tôi gần gủi, xúm xít với Ba tôi. Kể chuyện trường lớp, chuyện học hành cho Ba tôi nghe. Ba tôi vẫn thường khuyên những câu rất đơn giản ‘ráng học nghe con’ mà mang nhiều ư nghĩa động viên tinh thần cho tôi rất nhiều. Giờ đây, ở tuổi 60, tôi không c̣n có Ba mà cũng không c̣n mẹ - mẹ tôi ra đi sớm hơn Ba tôi. Rồi đây những chuyện vui buồn trong cuộc sống tôi không c̣n ai để nghe tôi kể nữa! Những lời khuyên đơn giản nhưng chân t́nh của Ba tôi không c̣n ai lập lại! Nụ cười hiền lành và nét mặt hân hoan của Ba tôi giờ đây không c̣n nữa!

Những ngày thơ ấu đă qua đi, giờ đây tôi đóng vai tṛ làm cha, chờ đón để chia xẻ những niềm vui từ con cái, nhưng tôi vẫn phải chờ hoài!

Lê Thiện Phúc

(HSPTG-58-64)

Melbourne ngày 29 tháng 9 năm 2003.