Xin Mời Tham dự:
 
Lễ Tưởng Niệm 140 Năm
Cụ Phan Thanh Giản Tuẩn Tiết
 
do Viện Việt Học và Các vị giáo sư,
cựu học sinh Phan Thanh Giản, Cần Thơ phối hợp tổ chức:
từ 2 giờ dến 5 giờ chiều Chủ Nhật,
ngày 8 tháng 4, năm 2007

tại phòng hội của Viện Việt Học
15355 Brookhurst Street,  Suite 222

Westminster, CA 92683
Tel: (714) 775-2050
Chương Trình:
2:00PM-5:00PM
* Khai Mạc (2PM)
* Niệm Hương
* Lời Phát Biểu của Giáo Sư Viện Trưởng Trần Ngo.c Ninh
* "Cụ Phan Thanh Giản, một biểu tượng của hào khí phương Nam" (Giáo Sư Nguyễn Trung Quân trình bày)
* "Thân Thế và Sự Nghiệp của Cụ Phan Thanh Giản" (Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm trình bày)
* Văn Nghệ
* "Tại sao người Cộng Sản kết tội Cụ Phan Thanh Giản" (Nhà biên khảo Trần Đông Phong trình bày)
* Bế Mạc (5PM)
 
 
140 Năm Nhớ Về Cụ Phan Thanh Giản
(1867-2007)
 
Cụ Phan Thanh Giản sanh năm 1796 tại làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) trong một gia đình quan chức nhỏ. Khi Phan Thanh Giản được 7 tuổi thì mẹ ông bịnh nặng và qua đời. Thuở nhỏ Ông là người có bản tính thông minh thiên phú, nhưng khi mẹ ông qua đời không bao lâu thì phụ thân của ông bị vu oan phải vào tù, vì vậy mà sự học tập của ông đều được sự giúp đở của các thầy đồ và các nhà hảo tâm trong làng. Tuổi thơ của ông đó là những tháng ngày đầy khổ nhọc, đầy thử thách, khó khăn.

Năm 1825, ông lên Gia Định tham gia thi Hương và đã đậu Cử Nhân. Năm 1826 ông ra Huế tham gia thi Hội và đã đỗ Tiến Sĩ vào năm 30 tuổi. Ông là người đậu tiến sĩ khai khoa đầu tiên ở dất Nam Kỳ. Vì vậy nên đây là một vinh dự lớn lao không những cho ông, mà cho cùng cả tập thể sĩ phu miền Nam, vì ông là người miền Nam đỗ được học vị cao quý này. Sau khi thi đỗ ông được bổ nhiệm chức Biên Tu ở Hàn Lâm Viện, và ông lần lượt đảm trách các chưc vụ cao cấp như: Bố Chánh Quảng Nam, Đô Sát Viện Ngữ Sử,.... và được cử làm phó sứ sang  nhà Thanh vào năm 1832. Khi trở về được thăng Đại Lý tự khanh Cơ Mật Viện Đại Thần, trước sau từng giữ các chức Thượng Thư Bộ Lễ, Bộ Hình, Bộ Hộ, làm Hiệp Biện Đại Học Sĩ, làm quan trải qua 3 đời vua triều Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức từ 1826 đến 1867. Ông cũng từng được cử đi kinh sứ tại Trung Hoa, Nam Dương, Singapore và Pháp và Tây Ban Nha.
Năm 1858, giặc Pháp âm mưu tấn công Đà Nẳng, nhưng bất thành, chúng đổi chiến lược xoay sang tấn công phía Nam và chiếm Gia Định năm 1859 và ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1861, trước thế tấn công ồ ạt của giặc, triều đình nhà Nguyễn đã cử Phan Thanh Giản làm chánh sứ sang Pháp chuộc lại 3 tỉnh miền Đông vừa mất, nhưng giặc Tây khước từ. Vì vậy mà cuộc thương thuyết không thành, ông và phái đoàn về nước năm 1864. Khi về nước ông được vua Tự Đức phong chức Kinh Lược Sứ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ còn lại. Trước thế lực không cân xứng về lực lượng quân sự giữa Pháp và Việt Nam, thì Cụ Phan Thanh Giản rất khó lòng trong các sứ mạng thương thuyết đòi lại đất đai đã mất. Sau khi mất 3 tỉnh miền Đông, giặc Pháp được đà chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây. Trong khi đó triều đình Huế gặp nội tình chia làm hai phe tranh chấp nhau, phe kịch liệt chủ chiến đánh Pháp và phe còn lại chủ trương ôn hòa nên thương lượng với Pháp. Chính vì thế đã làm cho tình hình triều đình thêm rối ren.
 
Khi  giặc Pháp xăm lăng đánh chiếm Nam Kỳ vào năm 1862, ông cùng Lâm Duy Hiệp được cử đi kinh sứ để điều đình với giặc Pháp và là đại diện cho triều đình vua Tự Đức ký kết Hòa ước Nhâm Tuất vào năm 1862 giao trọn ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Do hành động này mà dân gian có câu lưu truyền:
 
"Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân"
(Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nước; triều đình coi thường dân chúng).
 
Năm 1863, ông lại được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) sang Pháp thương lượng chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, nhưng không có kết quả. Trở về Vĩnh Long  vào năm 1867, ông chán nản vì biết giặc Pháp sẽ trấn áp tiếp bằng võ lực, và rồi từ đó ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ tiếp tục mất vào tay giặc chỉ trong vòng mấy ngày. Sau khi Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên rơi vào tay giặc, nhận thấy trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ không tròn, Cụ Phan Thanh Giản đã quyết định tuẩn tiết vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, thọ 71 tuổi. Khi ông mất, tên tuổi Phan Thanh Giản được người đời luyến tiếc, kính trọng vì bản tánh cương trực, và trung quân ái quốc.
 
Trong cơn quốc biến, trước sự việc mất đất đai vào giặc Pháp, vua Tự Đức đã kết tội ông không chu toàn nhiệm vụ và ra lệnh đục bỏ tên ông ở bia Tiến Sĩ. Tuy nhiên, nhiều nhà trí thức đương thời bên ngoài tỏ lòng thấu hiểu  những nỗi niềm uất ức, khổ tâm của ông, như Cụ Nguyễn Thông bất mãn dâng sớ lên vua Tự Đức để xin giãi bày nỗi oan ức cho Cụ Phan Thanh Giản, như Cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu ở phương Nam đã làm một bài thơ khóc cụ Phan thật cảm động như sau:

Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Dàu dàu mây trắng cõi Ngao châu
Ba triều công cán vài hàng sớ
Sáu tỉnh cang thường một gánh thâu
Trạm Bắc ngày chiều, tin nhạn vắng
Thành Nam, đêm quạnh tiếng quyên sầu
Minh sinh chín chử lòng son tạc
Trời đất từ đây mặc gió thu”

Cuộc đời của cụ Phan Thanh Giản vì giữ đạo trung quân ái quốc, giữ tiết tháo tuẩn tiết quên thân mình để bày tỏ trách nhiệm đã không hoàn tất. Tánh  cương trực và khí khái của cụ Phan mãi mãi được ghi nhớ trong sử sách. Tại Cần Thơ trường nam trung học công lập lớn nhứt đã mang tên ông.
 
Lê Ngọc Điệp