Mộ Cụ THỦ KHOA

BÙI HỮU NGHĨA

Ở B̀NH THỦY CẦN THƠ

bài của

L Ê  C Ầ N  T H Ơ

 

Đất nước nhiều năm ṛng ră chiến tranh, các di tích lịch sử có khi bị lăng quên đáng tiếc, như mộ cụ Cử nhân Phan Văn Trị nhiều năm hoang phế giữa vườn cam Phong Điền; mộ cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa tại thành phố Cần Thơ.

Mộ cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa nằm trên phần đất thuộc phường An Thới, cách cầu B́nh Thủy, Cần Thơ trên một cây số. Mộ xây bằng đá ong xanh đă bị sụp đổ lỡ nhiều mảng. Mộ bia xiêu vẹo rất nhiều năm không ai tu sửa mặc dù xung quanh mộ những rẫy dưa, đậu cứ liên tục được gieo trồng và thu hoạch. Nhà cửa dọc theo con hẻm vào mộ ngày càng nhiều thêm, chứng tỏ dân cư trong thành phố tăng theo nhịp độ chiến tranh tàn phá khắp vùng quê đồng ruộng mà nông dân khó thể sinh sống ở đó. Măi đến năm 1974, khi làm Quận trưởng Quận Nhứt, thị xă Cần Thơ, Trung Tá Lê Văn Giàu đă vận động thân hào nhân sĩ địa phương và nhóm Hưng cổ Văn đàn của các cụ Hà Thủy Nguyễn Sanh Kim, Nguyễn Tài Năng ở B́nh Thủy... chung nhau trùng tu ngôi mộ. Ngày lễ khánh thành, anh Trần Hoàng Kính, phụ trách Thông Tin Chiêu Hồi quận, đă ra mắt tập nội san tường tŕnh diễn tiến và ư nghĩa việc trùng tu nầy.

Mộ cụ Thủ khoa được xây lại bằng đá mài với mộ bia và đền thờ có ghi bài vị và câu đối nói lên tài đức và nghĩa khí của nhà thơ danh sĩ đất B́nh Thủy - Long Tuyền. Mộ xây trên nền cao lót gạch xanh đỏ, xung quanh là hàng rào xi măng được phết sơn sáng sủa. Nhiều chậu kiểng đặt dọc theo hàng rào, xen vào các "đôn”cho du khách ngồi nghỉ chân trông đẹp mắt. Do cụ Thủ khoa mất đi không để lại h́nh ảnh và chân dung nên đời sau khó h́nh dung được vóc dáng và khuôn mặt cụ. Năm 1987, qua cuộc hội thảo khoa học về Bùi Hữu Nghĩa tại Cần Thơ nhân kỷ niệm 180 năm ngày sinh cụ Thủ khoa, đến năm 1992 kỷ niệm 120 năm ngày mất của cụ, họa sĩ Trần Thanh Phong ở tỉnh An Giang đă gởi tặng bức tượng bán thân chân dung cụ Bùi Hữu Nghĩa (tưởng tượng sau khi nghiên cứu các tư liệu liên quan đến cụ), và được dựng lên tại phần mộ cụ đến ngày nay.

Cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, nhà thơ, hiệu Nghi Chi, Liễu Lâm chủ nhân, sinh năm Đinh măo 1807 tại làng Long Tuyền, trước thuộc Vĩnh Định, trấn Vĩnh Thanh (Vĩnh Long), sau thuộc tỉnh Cần Thơ (nay là Long Tuyền - Cần Thơ). Thân phụ cụ là Bùi Hữu Vị, xuất thân nghề chài lưới. Thuở trẻ cụ lên Biên Hoà ngụ nơi nhà ông Hộ trưởng Nguyễn Văn Lư, học với cụ đồ Nguyễn Hàm, tức Đồ Hoành. Để rồi nhân duyên gặp gỡ tại Biên Hoà, cụ được ông Lư gả con gái là Nguyễn Thị Diệu tức Tồn. Đang ăn học ở Biên Hoà, gặp phải cuộc dấy binh chống triều đ́nh của nhóm Lê Văn Khôi, măi hết cơn loạn lạc, Bùi Hữu Nghĩa thi đỗ Giải nguyên (Thủ khoa) trường thi Gia Định lúc 28 tuổi, đó là năm Ất vị (mùi) 1835. Sơ bổ Tri phủ Phước Long tỉnh Biên Hoà, nhưng v́ tính khí bị cấp trên ghét mà trù dập, giáng cấp rồi thuyên bổ Tri huyện Trà Vang (tức Trà Vinh, Vĩnh Long), nay thuộc tỉnh Trà Vinh.

Cũng v́ tính cương trực, cụ lại đương đầu với đám cường hào ác bá tại Trà Vinh, bị quan trên tham nhũng cáo gian, t́m cách hăm hại trong vụ Láng Thé năm Mậu thân 1848. Bà Tồn lên Biên Hoà gởi con là Bùi Hữu Tú (sinh năm Bính ngọ 1846) cho bên ngoại nuôi, rồi trở xuống Mỹ Tho quá giang ghe bầu ra tận kinh đô Huế kêu oan cho chồng. Nhờ vậy cụ mới thoát cảnh lao tù, nhưng phải sung quân đóng đồn ở Vĩnh Thông (Châu Đốc) năm 1849. Bà Tồn lâm bệnh, nằm ở quê nhà tại Biên Hoà rồi qua đời năm Canh tuất 1850. Năm sau 1851, cụ Bùi Hữu Nghĩa mới được cho về Biên Hoà thăm con, rồi làm thơ, câu đối và văn tế vợ, có đoạn :

"Con sáu tuổi thơ ngây một bóng, em nao đành nhắm mắt qui tiên;

Chồng trăm bề lo lắng một ḿnh, bậu bao nỡ xấp lưng cỡi hạc".

Đóng quân ở Tịnh Biên (Vĩnh Thông) ít lâu, cụ xin giải ngũ về quê quán Long Tuyền sống đời ẩn dật, sinh nhai bằng nghề thuốc và dạy học, ôm ấp chí cao khiết. Tài đức của cụ được các giới sĩ phu, toàn dân trọng vọng, mến yêu.

Năm Nhâm thân 1872, ngày 21 tháng giêng âm lịch, cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa mất, thọ 65 tuổi. Mộ cụ tọa lạc tại địa điểm vừa kể trên. Tại chùa Nam Nhă (gần dốc cầu B́nh Thủy) hiện nay c̣n thờ vợ chồng cụ Thủ khoa.

Ngôi sao Bùi Hữu Nghĩa chói rạng trên ṿm trời văn học xóm Bà Đồ (B́nh Thủy - Cần Thơ), cuốn hút các văn tinh Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Đỗ Minh Tâm, Mai Đằng Phương... cùng hướng về góc trời Long Tuyền phát quang rực rỡ. Các học tṛ của cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và Cử nhân Phan Văn Trị như Nguyễn Phước Dương bút hiệu Tử Hiển, Nguyễn Giác Nguyên bút hiệu Long Khê, Lê Quang Chiểu, Trần Ngọc Lầu, Nguyễn Hữu Đức, Phạm Bá Đại v.v... là những nhân tố đóng góp phần toả sáng văn học miền Sông Hậu.

Ngoài các bài thơ, văn tế, cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa c̣n để lại bản tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên, một áng cổ văn có giá trị được người đời truyền tụng, bởi tài hoa của tác giả là sử dụng thơ ca để lột tả tâm lư của từng nhân vật và luôn tạo ra cái gút, từ gây cấn cho đến xung đột dữ dội trong xă hội đương thời. Kim Thạch Kỳ Duyên được in nhiều lần, có người cho rằng “nếu lấy phẩm mà thay vào lượng, th́ chỉ một bổn tuồng hát bội Kim Thạch Kỳ Duyên cũng đủ làm cho người Việt Nam - nhất là trong miền Nam này, không bao giờ quên tên tuổi Thủ khoa Bùi Hữu NghĩaỢ. (Tác phẩm được nhà in Claude et Compagnie ở Sài G̣n ấn hành lần đầu tiên năm 1895 do ông Bùi Quang Nhơn thân nhân của cụ. Lần tái bản thứ nhất nhà in Trung Bắc Tân Văn 1919. Lần tái bản thứ hai nhà in An Hà ở Cần Thơ 1932. Được dịch ra tiếng Pháp : LỖUnion merveilleuse de Kim et de Thach - Sai Gon BSEI, nỖ1-2 Janv-Juin 1934 và có lẽ tái bản lần cuối cùng 1966, nhà sách Khai Trí xuất bản, ông Trần Văn Hương chú thích, ông Lê Ngọc Trụ hiệu đính). Tuồng hát bội Kim Thạch Kỳ Duyên gồm có ba hồi, hai mươi chín cảnh, chia ra như sau: Hồi một có 10 cảnh, 51 lớp; hồi hai có 11 cảnh, 55 lớp; hồi ba có 8 cảnh, 46 lớp. Với gần 50 nhân vật tiêu biểu từ bậc Vua Chúa đến hàng thứ dân, được lồng trong những mối t́nh tráo trác và éo le, đại diện cho tính cách thiện và ác, trung thần và xu nịnh. Có thể nói ở bản in lần đầu tiên , ông Bùi Quang Nhơn đă khắc hoạ một cách tài t́nh qua các nhân vật như: "Giàu như Lâm Vượng, giàu mà trược phú. Học như Ngạn Yêm, học cũng nho tông. Thầy như Thạch Đạo Toàn, mà bị nạn sảnh tai. Quan như Thiết Đ́nh Quí đă uổng danh tuần tại. Khen bấy Kim Ngọc cang thường vẹn vẻ, khôi khoa đảnh giáp sẵn dành phân (...). Cám Giải Nương yêu ấp cừu nhơn, ḍng bích thủy thả trôi thây liệt phụ (...). Vơ Hà gái gồm no tài đức, nên danh chồng đền đáp nghĩa cù lao. Ái Châu nàng rập rận nguyệt hoa, cậy thế quư phũ phàng ơn cúc dục. Căm hận Hoá Long hải khẩu, ghé ngôi thần mà đạo quả xưng cô. Nực cười Lư Khải gian thần, ăn lộc chúa mà khi quân mại quốc. "Báo ứng chung vô sản"dẫu cao phi viễn tẩu cũng nan tàng. "Nhơn do cánh vấn thùyỢ, suy cổ văng kim lai đều khá nghiệm (Trích Tiểu Tự - Bùi Quang nhơn đề tựa, nhà in Bùi Quang Nhơn 1985).

Nhiều lần cụ họa thơ đả kích Tôn Thọ Tường theo Pháp, và có bài thơ kêu gọi đồng bào nhất tề đứng lên chống giặc Pháp xâm lăng :

Ai khiến thằng Tây tới vậy cà ?

Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba

Hẳn hoi ít mặt đền ơn nước

Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà

Đá sắt ôm ḷng cam với trẻ

Nước non có mắt thấy cho già

Nam kỳ chi thiếu người trung nghĩa

Báo quốc cần vương dễ một ta !

Ngày nay du khách ngồi xe trên liên tỉnh lộ 27 đi Long Xuyên (trước năm 1975 mang tên Vơ Duy Tập, nay đổi là cách mạng tháng 8), cách trung tâm thành phố khoảng năm cây số thuộc địa phận phường An Thới, (trước kia là đất Trùm Neo, trong vườn ông Đốc phủ Dương Thân Hỷ) nh́n phía tay phải có một cổng tam quan với mấy ḍng chữ : Mộ THỦ KHOA NGHĨA. Theo cổng vào con đường nhỏ hẹp khoảng ba trăm thước, sẽ gặp nơi yên nghỉ đời đời của cụ Thủ khoa đất Long Tuyền - B́nh Thủy, đă sáng chói như v́ sao trong Văn Sử Việt Nam hậu bán thế kỷ 19, đă đem lại cho quê hương Cần Thơ tiếng tăm nức cả một vùng...

Nghĩ rằng, mỗi người dân Cần Thơ nói riêng, dân tộc Việt Nam chúng ta nói chung dù sống bất cứ nơi nào, ở đâu, mỗi khi nhớ về Cần Thơ, nhớ về tổ quốc thân yêu, không thể không tự hào với một danh sĩ tiết tháo trung trinh, tài đức vẹn toàn như cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa. Vào viếng nơi đây, thắp nén nhang để tưởng nhớ người xưa là việc nên làm khi chúng ta có dịp trở lại quê hương.

Mộ cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa không uy nghiêm lộng lẫy như các lăng tẩm triều đ́nh, mà chỉ đơn sơ khiêm nhường đời đời rợp bóng dưới ṿm cây xanh, quanh năm đón gió mát từ sông Hậu thổi vào, và tiếng ŕ rào của cây lá phía Cồn Linh thay nhau như nhạc khúc triền miên đầy nỗi tự hào về một vùng địa linh nhân kiệt.

 

L Ê C Ầ N T H Ơ

(Trong QUÊ HƯƠNG XA MĂI NGÚT NGÀN

tác giả tự xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2000)