NHỚ

MÙA CÁ

LÊN ÐỒNG

 

 

bài của

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

Bây giờ ngồi nhắc lại chuyện xa xưa mà lòng tôi chợt nghe bồi hồi xúc động. Có lẽ do hình ảnh quê nhà tuổi ấu thơ đã dồn nén hằng bao năm trước, nay bùng lên theo hoài cảm yêu thương?

Ngày đó quê tôi làm ruộng mỗi năm một vụ: Tháng Năm âm lịch gieo mạ, tháng Bảy cấy giâm, tháng Chín cấy liền, và... tháng Chạp, tháng Giêng gặt lúa. Từ tháng Giêng đến tháng Năm, đất đồng bỏ trống, ai chịu khó thì lên vồng trồng thêm khoai lang một vài công, hoặc tỉa đậu, trồng bắp ở khu đất biền. Khoảng thời gian nầy đồng khô, cỏ cháy, đất nứt nẻ chờ đợi cơn mưa xuống. Cỏ bắt đầu mọc khi có vài trận mưa đầu mùa. Khắp cánh đồng quê tôi có hiện tượng đốt đồng. Người ta trải rơm mỏng trên mặt ruộng, phủ lên lớp cỏ năng, cỏ chỉ héo khô do cái nắng hun trời và đất nứt nẻ..., họ thay nhau đốt để sạch cỏ và sau nầy mưa xuống vị mặn của tro sẽ khử đi độ chua phèn, khiến đất thêm mầu mỡ.

Hình ảnh khắp cánh đồng từng đụn khói bốc lên, lan toả một màu trắng đục, xông lên mùi hăng hăng của rơm cỏ cháy... hoà lẫn trong làn gió quyện khắp cánh đồng, đã khiến tôi xúc cảm viết mấy dòng lục bát kỷ niệm khi chợt nhớ về quê hương ngày cũ:

 

KHÓI ÐỒNG

 

Tháng nầy chiều toả khói đồng

Trôi xa lãng đãng bên dòng tuổi thơ

Tôi về thương chút mộng mơ

Bỏ quên từ lúc hững hờ chiến tranh.

 

Tháng nầy trời thiếu màu xanh

Không gian nhàn nhạt buông mành tơ sương

Mùi rơm cháy - mùi khói đồng

Cho tôi cái nhớ thoảng trong kiếp đời.

 

Tháng nầy đất ruộng nghỉ ngơi

Thuở xưa tôi thích đùa chơi thả diều

Bây giờ tất cả hương yêu

Vụt ngang tiềm thức giữa chiều quê hương.

 

Tháng nầy chợt chớ chợt thương

Miền thơ ấu cũ mù sương khói đồng

Nắng chiều toả sắc cầu vồng

Tôi men lối cũ mà lòng bâng khuâng...

 

Lòng bâng khuâng cứ lãng đãng theo tôi, nhắc tôi nhớ mãi kỷ niệm làng quê dù bây giờ mình đã cách xa muôn trùng vạn dặm.

Ðất quê tôi nhờ phù sa Sông Hậu nên màu mỡ, xốp tơi. Những năm năm mươi, sáu mươi của thế kỷ nầy quê tôi rất ít người sử dụng máy cày, chỉ dùng sức trâu, nhưng phần đông “trục thả” rồi cấy, vậy mà lúa trúng, nhà nào cũng có lúa ví đầy bồ. Tôi cũng không nghe nói tới thuốc trừ sâu hay phân bón hoá học. Những năm đó bà con làm ruộng theo kinh nghiệm dân gian cổ truyền chớ chưa biết áp dụng khoa học kỹ thuật như ngày nay. Và có lẽ nhờ vậy mà đất đai mầu mỡ tự nhiên chớ không bị "chai", bị "xuống cấp" do các chất phân bón hoá học gây nên!

Bài viết nầy lại đề cập một việc khác, là "bắt cá lên đồng”. Bạn tưởng tượng vào những năm đó, cá tôm ở miệt Trường Long quê tôi rất nhiều. Những tháng đồng cạn nước sắp khô thì cá theo con nước ra sông rạch hoặc mương đìa để sống, bởi cá sống nhờ nước. Khi có mưa, đặc biệt là những cơn mưa rào, những trận mưa rất to xối xả xuống đồng ruộng, phần thấm vào đất làm bung vỡ từng sớ, lấp kín những vết nứt nẻ kéo dài suốt mùa khô để có thể còn tích tụ lại mặt đất trũng một số nước ở những cơn mưa sau; phần còn lại trôi tắp xuống các ao mương rồi đổ ra sông rạch. Chính những vị trí đổ ra nầy là tụ điểm cho các gia đình họ cá ‘lên đồng’.

Cứ sau mỗi trận mưa to, bọn chúng tôi quảy giỏ hăm hở chạy ra đồng, men theo các nơi có dòng nước đổ... để bắt cá. Ðủ loại, đủ cỡ, đặc biệt cá rô, cá sặc, cá lóc, cá trê... theo ngược dòng nước đổ, lách lên cạn "lách tách, rọt rẹt". Con nào bụng cũng no căng bởi chùm trứng đến hồi gần sanh nở. Cá lách lên đồng để tìm chỗ đẻ. Lứa cá nầy sẽ lớn lên vào mùa nước nổi của tháng Bảy, tháng Tám, lúc bà con "đông ken” cấy lúa. Chúng tôi mặc sức bắt những chú cá chẳng may lọt vào đôi mắt trẻ thơ của mình. Lúc đó chúng tôi nghĩ rằng bắt được nhiều cá là giỏi, là có tay sát cá, chớ đâu hiểu bắt cá vào thời điểm nầy là tự hủy diệt đi sản lượng lớn của đàn cá mùa sau! Nói gì thì nói, việc bắt cá lên đồng của chúng tôi cũng không gây ảnh hưởng gì cho sự sinh sản của nhiều loại cá, bởi bọn trẻ chúng tôi ở xóm ấp lưa thưa không thể tóm gọn hết được số cá tìm lối lên đồng để đẻ. Và, thực tế những năm đó, lũ cá vẫn sinh sôi nảy nở, liên tục cung cấp cho người dân khắp vùng quê tôi lượng cá ăn đủ đầy suốt những năm gắn bó với quê hương mình, mà còn dư giả để làm mắm, xẻ khô...

Nhắc tới việc sản lượng cá bị hủy diệt, tôi còn nhớ thời đó chính quyền đã ra lịnh cấm cư dân dùng "đó” đuổi bắt cá ròng ròng (là loại cá lóc mới vừa nở), nếu bị bắt gặp sẽ bị phạt thậm chí ngoài chợ Phong Ðiền ai ngồi bán cá ròng ròng cũng bị phạt và thau cá nầy bị đem đổ xuống sông! Nghĩ rằng việc cấm đó cũng là điều hợp lý, cũng như tại Hoa Kỳ, những ai đi câu cá đều phải thông hiểu luật khi câu được cá, cỡ nào mới bắt, cỡ nào phải thả lại sông biển... Lỡ câu được cá, bắt được cua có trứng cũng phải thả, nếu bắt mà bị cảnh sát xét gặp, sẽ phải bị phạt rất nặng!

Khi cá lên đồng tìm chỗ đẻ một thời gian là nông dân bắt đầu phát cỏ trên các đường lươn để cấy giâm. Lúa giâm bén rễ và bắt đầu nhảy rẻ mập ra... người ta có thể lội qua những đám lúa non đó để giăng câu hay soi bắt cá. Về giăng câu tôi sẽ kể trong một bài sau. - đây xin kể vắn tắt về việc soi cá... mà tôi là người trong cuộc đã chứng kiến một lần trong đời không sao lý giải được!

Số là lần đó, sau một cơn mưa lớn buổi chiều, khoảng chạng vạng thì dứt hột. Chúng tôi ba đứa rủ nhau đi soi cá. Mỗi đứa một cái lồng đèn bánh ú (thời đó chúng tôi chưa có dịp xài đèn đốt bằng khí đá), phía tay cầm đèn có đeo thêm một cái nôm để chụp bắt cá lóc, một con dao yếm (người lớn thường dùng dao dâu) mài bén, bên thắt lưng hông quảy một cái giỏ tre băng ra đồng. Chia mỗi đứa một đường lươn, tôi soi đường lươn trong biền (giáp bờ vườn), Sáu Già đường lươn kế và Bảy Cù đường lươn giữa ruộng. Các đường lươn chạy song song nhau và chỉ cách nhau khoảng trên dưới trăm mét.

Soi cá phải bước từng bước rất chậm, nhẹ để đừng gây tiếng động. Ban đêm cá thường trườn lên mé nước cạn để ngủ, chúng tôi cứ bước từng bước soi đèn phía trước mặt, gặp bất cứ cá nào là giơ dao chặt ngay cổ rồi buông dao mò cá bỏ vô giỏ. Gặp cá lóc thì chụp nôm rồi thò tay vô bắt sống. Nếu thấy lươn, lật ngược sóng dao lại chặt mạnh xuống, lươn bị gãy xương sống không thể chạy được, mới bắt nó cho vào giỏ. Ðêm đó, một đêm sau cơn mưa nhưng bầu trời vẫn âm u khác thường, tôi đã "trúng mối to" khi gặp nhiều cá trê vàng, cá lóc con (chặt dao chớ không dùng nôm) và nhất là... dùng sóng dao chặt rất nhiều lươn vàng hườm! Không đầy một tiếng đồng hồ, cái giỏ đeo bên hông của tôi nặng chịch, tôi mừng thầm nhưng do ham thích, tôi cứ bước theo cặp mé đường lươn, càng đi càng gặp lươn mà không còn gặp cá nữa... Khi gặp gò đất cao trước mặt ngồi xuống nghỉ chân. Mở giỏ để trước mặt dưới ánh đèn dầu, tôi "tá hoả tâm tinh", một giỏ đầy đất sét! Tôi hoa mắt vụt đứng lên quăng cả giỏ cá, cái nôm, tay cầm dao, tay cầm đèn.... vừa chạy ra hướng có đèn của Sáu Già và Bảy Cù, vừa kêu chúng nó với giọng thất thanh... Nghe tiếng tôi kêu, cả hai đứa cũng chạy lại phía tôi tiếp cứu. Gặp lại nhau, tôi mừng quá, nước mắt tự nhiên tuôn ra. Tôi kể trong hụt hẫng những điều xảy ra, cả hai đứa bạn nói giọng run run: “Thôi tụi mình về đi. Nó bị ma nhát!”

Bạn đọc quý mến. Ma thì từ nhỏ đến lớn tôi chỉ nghe nói nhưng chưa tận mắt gặp. Chuyện đi soi cá mà được một giỏ đất sét (sáng ra đi tìm lại cái giỏ mới thấy nằm lăn lóc trên gò mả lạn của đất nhà ông Chín Châu! Trong giỏ chỉ lèo tèo mấy con cá sặt, cá rô, còn rất nhiều cá trê vàng và lươn mà tôi đã soi được đêm qua thì... đó là những cục đất sét nhão nhoẹt) là chuyện có thật, đã xảy ra trong đời tôi, chỉ duy nhất một lần, vì sau lần đó, mấy đứa bạn rủ đi soi, tôi đều lắc đầu từ chối.

Giờ đây đã ba bốn mươi năm rồi, sinh hoạt nông thôn đã đổi khác. Ðồng ruộng quê tôi mỗi năm làm hai, ba vụ. Ðất được khoanh vùng, chia thửa manh mún, mỗi người làm một thời vụ khác nhau, trên đồng lúc nào cũng có lúa chín, mới ngậm đòng, mới cấy, mới gieo mạ... hay mới làm đất. Cá tôm ngày càng hiếm đi, có lẽ bị ảnh hưởng đến hoá chất xuất phát từ phân bón, thuốc trừ sâu... và do thâm canh, tăng vụ, khiến môi trường sinh nở của các loại cá không được bình thường. Do đó hình ảnh bắt cá lên đồng chắc không còn nữa đối với thế hệ trẻ hôm nay. Còn nhớ mùa mưa năm 1992 trước khi rời khỏi Việt Nam, tôi có dịp trở lại Trường Long viếng mộ ông bà và chia biệt bà con. Ngồi nhìn những về lục bình trôi theo dòng nước, nhìn những giọt mưa theo mái lá nhỏ xuống mặt đất trơn lầy, tôi chợt nhớ đến Sáu “Già", Bảy "Cù", Năm “Cà Lăm”, Tư “Thẹo”,..., những đứa bạn cùng lứa tuổi với tôi, đã có chung kỷ niệm quảy giỏ đi bắt cá lên đồng, do cuộc chiến tranh nghiệt ngã vừa qua, đã vĩnh viễn nằm yên giữa lòng đất mẹ. Tôi chợt thấy lòng man mác buồn.

 

 

LÊ CẦN THƠ

(Trích trong QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN,

tác giả tự xuất bản tại Hoa Kỳ lần thứ I năm 2000)