<bgsound src="http://www.ptgdtd.com/cantho/musics/vemientay.mp3" loop=true> C?N THO

 

CẦN THƠ

QUÊ HƯƠNG TÔI

Bài của

Lê Cần Thơ

 

Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất màu mỡ phù sa, quanh năm nước ngọt tưới mát ruộng đồng, vườn xanh oằn bông sai trái. Hai tiếng Cần Thơ đối với tôi sao mà thiết tha, tŕu mến, dịu dàng, đôn hậu... như tấm ḷng người dân Cần Thơ, đă cho tôi niềm tin khi mở mắt chào đời.

Có người hỏi tôi ư nghĩa hai tiếng Cần Thơ? Thật lúng túng khi phải t́m nguồn gốc giải thích tên một vùng đất quê hương đă gắn liền với tôi như máu thịt, bởi tôi chưa t́m được tài liệu nào chính xác cho sự xuất hiện của hai tiếng Cần Thơ... ngoài giả thuyết sau đây mà thời c̣n đi học tôi có dịp nghe được.

Tương truyền rằng, khi Nguyễn Vương bị đại binh Tây Sơn truy nă, Ngài và cụ Nguyễn Huỳnh Đức phải đi lánh nạn. Khi vào Rạch Giá được ít lâu th́ Ngài và cụ Nguyễn Huỳnh Đức giả dạng thường dân đi lần ra tỉnh “Càn Giang"(?), nhưng không hiểu v́ tam sao thất bản hay v́ lẽ nào mà chữ "Càn"lần lần thành ra chữ "CầnỢ.

Nguyễn Vương và cụ Nguyễn Huỳnh Đức có ư ra Càn Giang để đi xuống “Cù lao DungỢ(vùng Sóc Trăng) v́ ngài có ḷ đúc tiền kẽm và vài người tôi trung ở đó. Trong lúc đi theo đường sông từ Long Mỹ qua Càn Giang, Nguyễn Vương và cụ Nguyễn Huỳnh Đức thường gặp các ghe thương hồ, ban đêm trăng tỏ, ghe th́ đàn, ghe th́ hát, khiến Ngài ngậm ngùi tủi cho thân ch́m nổi, nên làm vài bài thơ để giải sầu trong lúc thuyền c̣n lênh đênh trên ḍng nước Càn Giang. Rồi từ đó về sau, mỗi khi đến tiết thu, mấy bực thi gia thường ngồi thuyền thưởng nguyệt vịnh thi phú. Họ đặt “Càn Giang"lại là "Cầm Thi Giang" (ư nói sông để đàn ca vịnh phú). Lần lần gọi trại chữ "Cầm"ra "Cần"và "Thi"ra "ThơỢ. Từ đó “Cần Thơ” xuất hiện.

Trong Cần Thơ xưa và nay của Huỳnh Minh có ghi một truyền thuyết mà ông cho là của các bô lăo kể lại "nơi đây khi xưa có trồng rất nhiều loại rau cần và rau thơm, mỗi khi chủ vườn cắt rau đem đi bán, rao cùng đường : ai mua rau cần rau thơm không ?

Rau Cần, rau Thơm xanh mướt

Mua mau kẻo hết, chậm bước không c̣n.

Thiên hạ xúm nhau mua hai loại rau nầy rất nhiều, lâu ngày chầy tháng, danh từ rau Cần, rau Thơm được giới b́nh dân phổ biến thành câu ca dao :

Rau Cần lại với rau Thơm

Phải chăng đất ấy rau Thơm có nhiều.

Cũng có người lẩn thẩn gọi đại tên xứ đó là xứ Cần Thơ. Hai giả thuyết nầy, không biết giả thuyết nào đúng? Hoặc giả một địa danh mà có đến hai sự kiện xảy ra trùng hợp nhau. Hai tiếng Cần Thơ trở thành một địa danh thời bấy giờỢ.

Có nhiều nhà sưu khảo đă khổ công truy t́m cho có hệ thống sự xuất hiện của tên gọi nầy, tôi hiện không đủ tư liệu để liệt kê hết ra đây. Nhưng với riêng tôi... những ǵ c̣n trong truyền thuyết bao giờ cũng có thi vị của nó.

Được biết, do Nghị định của Soái phủ Sài G̣n, ngày 23 tháng 2 năm 1876, vùng Phong Phú lập thành tỉnh, mang tên Cần Thơ. Toà bố (Hành chánh) đặt tại tỉnh lỵ Cần Thơ. Viên quan Pháp đầu tiên trấn nhậm tỉnh Cần Thơ là Đại Úy Nicolai, chức Tham Biện hạng nh́. Đại Úy Nicolai ngồi chức Chánh Tham Biện (như Tỉnh trưởng bây giờ) Cần Thơ ngót 10 năm, khai thác đất đai, mở rộng đường sá, xây cất chợ búa. Tuy nhiên từ rất nhiều năm bị trị, sĩ phu miền Tây vẫn c̣n một số đông bất phục, nhưng trong t́nh trạng khó bề chống đối, các sĩ phu tiết tháo đành sống ẩn dật. Trong số nầy đáng kể có Cử nhân Phan Văn Trị lánh thân ở Phong Điền, cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa ở B́nh Thủy, Long Tuyền. Cho đến vị Cai tổng Lê Quang Chiểu sau nầy cũng tự giải chức từ quan, c̣n được tiếng thơm.

Những năm mới thành lập, tỉnh Cần Thơ gồm có 5 quận, 8 tổng và 72 xă. Đó là các quận Châu Thành, Phụng Hiệp, Ô Môn, Trà Ôn, Cầu Kè.. Về sau điều chỉnh lại, vẫn 5 quận nhưng tới 10 tổng và 94 làng.

Dưới chính thể Việt Nam Cộng Hoà, do hai sắc lệnh ngày 22-10-1956 và ngày 16 tháng 9 năm 1958, tỉnh Cần Thơ đổi tên là Phong Dinh, trong đó địa giới được phân lại: Cắt hai quận Trà Ôn và Cầu Kè sáp nhập tỉnh Vĩnh B́nh (Trà Vinh); lập hai quận khác là Long Mỹ và Kế Sách. Chẳng bao lâu, lại cắt phần đất Kế Sách trả cho tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng) rồi lại chia quận Long Mỹ thành hai quận Đức Long và Long Mỹ. Tiếp sau đó, lại tách hai quận Long Mỹ và Đức Long sáp nhập tỉnh Chương Thiện. Rồi lại lập hai quận mới khác là Khắc Trung (Cờ Đỏ) và Khắc Nhơn (Bảy Ngàn), nay sửa lại là Thuận Trung và Thuận Nhơn (dời về Một Ngàn) nằm trên bờ kinh Xà No. Năm 1966 lập thêm quận Phong Điền. Một thời gian sau lập thêm quận Phong Thuận (Cái Côn). Như vậy trước năm 1975, tỉnh Phong Dinh có 7 quận, 42 xă, về mặt địa lư có thể tóm tắt : Tỉnh Phong Dinh ở về phía Tây Nam miền Nam nước Việt. Tỉnh lỵ Cần Thơ cách thủ đô Sài G̣n 169 km. Đông bắc giáp tỉnh Vĩnh Long và Vĩnh B́nh bằng khúc sông Hậu Giang chạy dài khoảng 50 km. Đông Nam giáp tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng). Tây Bắc giáp tỉnh An Giang (Long Xuyên). Tây Nam giáp tỉnh Chương Thiện. Với diện tích toàn tỉnh là 162.257 km2.

Bạn thơ UYÊN THẢO có những ḍng thơ mô tả 7 quận của tỉnh Phong Dinh với cái nh́n tượng trưng từng đặc thù của mỗi quận bằng t́nh cảm thân thiết, lời thơ chân thành:

 

ĐẸP CẦN THƠ

 

o CHÂU THÀNH

 

Cái Răng ba nhịp cầu thân ái

Soi bóng nhiều năm giữa nước mây

Đ̣ mộng thong dong t́nh trĩu nặng

Măi thương h́nh ảnh dáng cầu quay.

 

o PHỤNG HIỆP

 

Ngă Bảy chia ḍng xuôi lục tỉnh

Cà Mau, Rạch Giá nối Hậu Giang

Khách thương hồ nổi trôi sông nước

Năm tháng thuyền dong lướt dặm ngàn.

o PHONG PHÚ

Ô Môn lúa tốt ngập đồng xanh

Ba Mít, Vàm Nhon đượm ư t́nh

Tân Thới mơ về quê Bông Giếng

Ba Se vọng tưởng nhớ Tây Thành.

o THUẬN TRUNG

Cờ Đỏ ngày xưa - miền cổ tích

Vầng trăng vằng vặc giấc chiêm bao

Trông về Thị Đội ḷng lâng tưởng

E ấp đài trang rám nắng đào.

o THUẬN NHƠN

Bảy Ngàn ngun ngút xáng Xà No

Văng vẳng c̣n đây điệu hát ḥ

Trà Ết, Vàm Bi... qua Kinh Mới

Đầm, Thác Lác mộng Cần Thơ.

o PHONG ĐIỀN

Ba Láng, Trường Tiền thương Vàm Xáng

Ru em câu hát ngọt dân gian

Trà Niềng, Nhơn Ái trăm năm đợi

Nguyện thủy chung ḷng cẳng bước sang.

o PHONG THUẬN

 

Sông Hậu ấp ôm ḷng đất nước

Cù lao Phong Nẫm rợp bần xanh

Cái Côn trải mộng xuôi miền biển

Hát khúc Cần Thơ đẹp ư t́nh

(Cần Thơ tháng 3/1966-tháng 10/1972)

 

Trong khi đó nhà thơ LÊ TRÚC KHANH lại giới thiệu một số làng quê chợ quận, thôn xóm yên tĩnh với những tâm hồn thuần phác, mộc mạc đáng yêu. Những địa danh quen thuộc mỗi khi gợi lại, mỗi người dân Cần Thơ không thể quên. Bài thơ :

 

CẦN THƠ

o  

Một góc bến Ninh Kiều nh́n qua từ Xóm Chài

XÓM CHÀI

Mây trắng Cần Thơ vương tóc em

Chiều mơ lả lướt mấy con thuyền

Đèn lên bến nhỏ sầu manh lưới

Đưa đón nhau - đ̣ qua nửa đêm.

o MÁI DẦM

Em Mái Dầm sông xa lớp lớp

Bằng lăng mọc tím lối lên trời

Khói tàu bay trắng vàm kinh nhỏ

Đôi mắt em - màu xanh biển khơi.

o BẰNG TĂNG

Bằng Tăng xóm trở nghèo xơ xác

Đồn cỏ - nền hoang - thuở tối tăm

Phố chợ trời mưa dầm ướt đất

Vào thương để mộng nếp trăng rằm.

o B̀NH THỦY

B́nh Thủy đường chân loang loáng nước

Về em - theo cỏ rối Long Tuyền

Mưa rơi tháng sáu dài hoang lệ

Trăm bóng sao cài đang ngả nghiêng.

o B̀NH MINH

Trưa nắng em về sông Bassac

Hồi chuông chiêu niệm tuổi B́nh Minh

Nhớ nhau qua giáo đường năm ngoái

Quạnh vắng rồi em - đứng một ḿnh.

o CÁI RĂNG

Và Cái Răng trời lên dáng xưa

Lời Trung Hoa vọng buổi giao mùa

Thương em áo trắng buồn đơn chiếc,

Hai đứa xa từ trong giấc mơ.

(Cần Thơ - LTK - 1966)

 

V́ là một tỉnh từng nổi danh về văn hóa, nhờ ảnh hưởng của các cụ Cử Trị, Thủ khoa Nghĩa, Cai tổng Chiểu, lại thêm những cuộc khởi nghĩa của Vơ Đ́nh Sâm từ năm 1868 hăy c̣n vang đọng âm ỉ trong ḷng ngựi dân Cần Thơ, nên không khí trong tỉnh vẫn sôi nổi từng cơn. Hơn nữa, học phong, sĩ khí trong tỉnh Cần Thơ đă khiến thực dân Pháp cực kỳ chú ư, quan tâm. Để lấy ḷng dân chúng và cũng để cho Cần Thơ xứng đáng là nơi trung tâm văn hóa của miền Tây, từ năm 1917, Cần Thơ khởi công xây dựng trường trung học Collège, sau nầy nghị định hợp thức hóa số 188N./G.Đ. đặt lại tên trường là Phan Thanh Giản. Trường Phan Thanh Giản nằm tại tỉnh lỵ Cần Thơ, tức thành phố Cần Thơ ngày nay.

Do nền giáo dục phát triển và nhu cầu đ̣i hỏi, sau nhiều năm vận động, hội thảo, đặc biệt, ngày 6 tháng 3 năm 1966 tại pḥng hội trường Trung học Phan Thanh Giản, đại hội phụ huynh học sinh miền Tây đă họp khoáng đại để bàn về việc vận động thành lập một trường Đại học. Thành phần tham dự đại hội gồm: Đại diện phụ huynh học sinh 15 tỉnh, các giáo sư đại học; đại diện Ông Vũ Quốc Thông, Chủ tịch Hội đồng Quốc Gia Giáo Dục; Tổng Thư kư, đại diện Viện trưởng Viện Đại học Sài G̣n; Đại diện Hội Đồng Nai tương trợ; phái đoàn báo chí và một số đông quan khách. Thuyết tŕnh viên của Ban Tổ chức buổi đại hội, GS Nguyễn Trung Quân, Giám học trường Phan Thanh Giản (khi đó GS Phạm Văn Đàm làm Hiệu trưởng) đă thuyết tŕnh đề tài: "Hướng về một Viện Đại học miền TâyỢ. Các giáo sư đại học như quư ông Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Văn Trường phát biểu ư kiến xây dựng và nhiệt liệt ủng hộ đường lối của Đại hội. Đại diện phụ huynh học sinh các tỉnh yêu cầu xúc tiến nhanh chóng việc thành lập một Viện Đại học miền Tây trên b́nh diện pháp lư ngay trong niên khoá 1966-1967, sẵn sàng động viên tất cả nhân lực, tài lực để ủng hộ. Do vậy, ngay mùa hè 1966, ông Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung uơng (tức Thủ tướng Chánh phủ) của Nội các chiến tranh, đă xuống chủ tọa buổi lễ tổ chức tại khu vực Bến Xe Mới, và ban hành Sắc lệnh thành lập Viện Đại học Cần Thơ. Buổi lễ nầy, một đại diện học sinh các miền Tây là anh Trần Quốc Mậu, Tổng thư kư ban đại diện học sinh trường Phan Thanh Giản đă đại diện đọc lời cảm tưởng tỏ ḷng biết ơn các thầy cô, các bậc phụ huynh đă lo lắng cho tương lai con em, đáp ứng ḷng mong ước khẩn thiết của toàn thể đồng bào miền Tây đối với sự phát triển giáo dục toàn quốc. Niên khoá đầu tiên của Viện Đại học Cần Thơ là 1966-1967 và GS Phạm Hoàng Hộ được cử làm Viện Trưởng đầu tiên từ niên khoá nầy.

Trong bài thuyết tŕnh dài của GS Nguyễn Trung Quân, có những đoạn nhận xét thật xác đáng và những yêu cầu thật bức thiết mà giới cầm quyền khó thể bài bác. Chẳng hạn: "... Người dân miền Tây ôn hoà và trầm tĩnh đă vô cùng hữu lư khi nhận xét rằng: tŕ hoăn việc thiết lập Viện Đại học miền Tây là đi trái với đường lối thực thi chính sách công bằng xă hội..."(...) "Bao nhiêu lư lẽ viện ra chống đỡ để làm đ́nh trệ hay tai ngơ mắt lấp đối với vấn đề thành lập Viện Đại học miền Tây đều không thể đứng vững. Muôn người như một, nhân dân miền Tây quả quyết rằng việc thành lập Viện Đại học miền Tây quả vô cùng quan trọng và khẩn thiết. Cơ quan văn hoá nầy chẳng những liên hệ mật thiết đến đà tiến triển của miền Tây mà c̣n là của cả dân tộc nữa. Toàn dân Việt Nam sẽ vui mừng, thoả nguyện khi thấy miền Tây được một Viện Đại học làm cơ sở căn bản cho sinh hoạt văn hoá song song với sự xây đắp lộ tŕnh cho những tài năng tương lai, sẽ thay thế lớp đàn anh đi trước nắm vững vận mệnh của Tổ quốc...Ợ. Và kết thúc bài thuyết tŕnh là trích dẫn lời của một giáo chức lăo thành để ngưỡng vọng về Đại học miền Tây: “Việt Nam hiển nhiên là một chiến lũy của Thế giới Tự do. Và trong thành tŕ nầy Đại học sẵn sàng giữ một địa vị khẩn yếu. Một phần, Viện Đại học giúp cho sự khuếch trương và bảo tồn mối nhiệt tâm của quốc dân, phần khác, bằng sự phát huy văn hoá, Viện Đại học sẽ tham dự vào uy danh xứ sở. Viện Đại học ư thức rằng sự hoà hợp và phẩm cách mà Viện có phận sự duy tŕ giữa các sinh viên, lẽ dĩ nhiên có liên quan đến hoà b́nh và phẩm cách Tổ quốcỢ. Viện Đại học miền Tây trong cuộc vận động đó đă chính thức có mặt mang tên Viện Đại học Cần Thơ, Toà Viện trưởng nằm trên đường Hoà B́nh, kư túc xá sinh viên là Khu Văn Hoá trên đường Tự Đức. Các giảng đường trường đại học nằm trên đường Mạc Tử Sanh (khoảng giữa đường từ Tham Tướng đi Cái Răng) gần Đài Phát Thanh Cần Thơ. Sau nầy, do sự phát triển của giáo dục, trên đường Nguyễn Viết Thanh (bây giờ là đường 3 tháng 2), đă xây dựng khu trường Đại học Cần Thơ với giảng đường “h́nh con rùa"thật rộng răi, khang trang, là niềm hănh diện của Cần Thơ.

Thành phố Cần Thơ nằm giữa đồng bằng sông Cửu Long, có đầu mối giao thông thủy bộ quan trong. Từ Sài G̣n muốn đến các tỉnh cực Nam như Chương Thiện, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau đều phải qua Cần Thơ theo quốc lộ 1 (quốc lộ 4 trước 1975); thêm vào đó liên tỉnh lộ 27 nối liền Cần Thơ với An Giang (Long Xuyên, Châu Đốc), thông đến Kiên Giang (Rạch Giá - Hà Tiên). Nằm trên ngă ba sông, chỗ hợp lưu sông Hậu và sông Cần Thơ vừa rộng vừa sâu nên thuận lợi về giao thông đường thủy từ nội địa lên Campuchia và ra biển Đông. Là đơn vị thuộc tỉnh Phong Dinh (nay là Cần Thơ), nằm vắt ngang vĩ tuyến 10 Bắc, kinh tuyến 105 Đông. Đông và Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long, Nam giáp quận Châu Thành (Cái Răng), Tây giáp quận Phong Phú (Ô Môn). Diện tích toàn thành phố 141,29 km2 gồm cả vùng ven và nội ô, tổ chức hành chánh hiện nay trong thành phố gồm 15 phường và 7 xă. Theo thống kê năm 1985 dân số 274 ngàn người. Chắc hẳn năm nay dân số thành phố Cần Thơ nói riêng, cả tỉnh nói chung đă gia tăng đáng kể.

Người dân Cần Thơ đă dày công khai phá đất đai, đă từng đấu tranh với thiên nhiên trong điều kiện nghiệt ngă ban đầu để cư trú, lập nghiệp. Họ mong muốn và rất yêu cuộc sống thanh b́nh, yên lành ngày càng sung túc. Nguyện vọng ấy đă được thể hiện qua từng tên đất, tên làng như Tân An, Thới B́nh, An Cư, An Lạc, An Nghiệp, An Thới, An Hoà..., như Hưng Thạnh, Hưng Phú, Hưng Lợi... T́nh cảm của người dân Cần Thơ gắn bó mật thiết với quê hương, xứ sở đậm nét qua mỗi điệu hát câu ḥ, mỗi lời thơ, ḍng nhạc. Đi đâu, chúng ta cũng không làm sao quên được câu hát đưa em :

 

Chợ nổi Cái Răng

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền

Anh có thương em th́ cho bạc cho tiền

Đừng cho lúa gạo...

Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê...

Hay :

Cần Thơ có bến Ninh Kiều

Mỗi chiều thứ bảy người nhiều như nêm

Đẹp xinh cảnh sắc về đêm

Nh́n sông thấy nước nhớ thêm t́nh người

(thơ V.Th.)

 

Đến với Cần Thơ và rời khỏi Cần Thơ ai không thấy ḷng xao xuyến khi nghe văng vẳng đâu đó giọng ḥ vút cao:

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó ḷng không muốn về...

Là những con người cần cù lao động nhưng lại thắm thía xiết bao với nỗi cần lao, khốn khổ do ách áp bức bóc lột của giặc ngoại xâm và phong kiến, nên trong truyền thống đấu tranh, người dân Cần Thơ đă xuất hiện nhiều tấm gương chói rạng : Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) người làng Long Tuyền - B́nh Thuỷ với ḷng yêu nước nồng nàn, đă giữ vẹn tiết nghĩa trung trinh đối với dân với nước, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất với bọn cướp nước và bán nước, tay sai. Cần Thơ c̣n xuất hiện những Vơ Duy Tập, Vơ Đ́nh Sâm, Lê Quang Chiểu, Nguyễn Thần Hiến..., c̣n có dấu chân của các danh sĩ như Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Huỳnh Đức ngày xưa dẫm qua; cũng là nơi an nghỉ sau cùng của cử nhân Phan Văn Trị, của chánh lănh binh Vơ Duy Tập; nơi mà ngay trong ngày quốc nạn 30-4-75, hai vị Tướng Tư lệnh và Phó Tư lệnh Quân Đoàn IV - quân khu 4, đă anh dũng tự sát để giữ tiết tháo “sinh vi tướng, tử vi thần”là Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng., rồi sau đó máu của Cựu tỉnh trưởng Chương Thiện Hồ Ngọc Cẩn đổ tại sân banh Cần Thơ v́ quyết tử thủ đến giây phút sau cùng trong cơn quốc nạn.. Và c̣n biết bao người con yêu nước khác trên mảnh đất Cần Thơ quê tôi. Họ đă sống với tấm ḷng thủy chung son sắt cùng quê hương, dân tộc.

Tất cả tựu trung thành sức mạnh vô biên, được truyền lại và tiếp tục nhân lên qua nhiều thế hệ kế tiếp nối nhau, đă hun đúc tinh thần và tạo cho ḷng tôi niềm tin và hy vọng về... Cần Thơ quê hương tôi.

 

L ê C ầ n Th ơ

(Trong QUÊ HƯƠNG XA MĂI NGÚT NGÀ N,

tác giả tự xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2000)